BÁO CÁO
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NĂM 2009 VÀ TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ,
KẾ HOẠCH NĂM 2010 VỀ LAO ĐỘNG, NGƯỜI CÓ CÔNG VÀ XÃ HỘI
PHẦN THỨ NHẤT
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, KẾ HOẠCH NĂM 2009
I - TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KẾ HOẠCH
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009 được triển khai trong điều kiện có những thuận lợi cơ bản do sự ổn định chính trị - xã hội và những thành quả của 20 năm đổi mới; hệ thống giải pháp điều hành của Chính phủ đề ra trong năm: “Tập trung cao độ mọi nỗ lực ngăn chặn suy giảm kinh tế, phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững, giữ ổn định kinh tế vĩ mô; chủ động phòng ngừa lạm phát cao trở lại, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, trong đó mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế” đã phát huy tác dụng, có hiệu quả rõ rệt. Bên cạnh đó, nước ta phải đối mặt với những khó khăn, thách thức to lớn do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới; thiên tai, dịch bệnh gây thiệt hại nặng nề; những yếu kém, khó khăn nội tại của nền kinh tế - xã hội chậm được khắc phục…
Để thực hiện nhiệm vụ trong bối cảnh trên, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tập trung chỉ đạo triển khai:
- Cụ thể hoá các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ thành 7 chương trình, kế hoạch công tác với 13 nhóm giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực, phân công nhiệm vụ và tiến độ thực hiện cụ thể đến các các đơn vị thuộc Bộ và các tỉnh, thành phố.
- Tổ chức hội nghị toàn ngành triển khai nhiệm vụ, kế hoạch năm 2009 thống nhất 8 nhóm chỉ tiêu, nhiệm vụ và 10 nhóm giải pháp lớn. Phân bổ giao chỉ tiêu kế hoạch và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2009 đúng thời gian quy định cho từng địa phương, đơn vị để chủ động triển khai thực hiện ngay từ đầu năm; chỉ đạo mỗi địa phương, đơn vị xây dựng chương trình hành động, phân công công việc, tiến độ, làm rõ trách nhiệm đến từng cá nhân trong thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém và góp phần ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội đối với lĩnh vực lao động, người có công và xã hội trên từng địa bàn.
- Phối hợp với các Ban chỉ đạo Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh/thành phố; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam... và các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch phối hợp chỉ đạo thực hiện các hoạt động chương trình giảm nghèo, dạy nghề, tạo việc làm, xuất khẩu lao động, hỗ trợ lao động mất việc làm, giải quyết tranh chấp lao động, phong trào đền ơn đáp nghĩa, trợ giúp đối tượng xã hội.
- Tổ chức các đoàn công tác làm việc trực tiếp với Ủy ban nhân dân 50/63 tỉnh, thành phố, đặc biệt các địa phương khó khăn, có nhiều vướng mắc, Lãnh đạo Bộ đã nhiều lần trực tiếp đến địa phương, xuống đến tận cơ sở để kiểm tra, nắm tình hình, chỉ đạo xử lý tại chỗ những khó khăn, vướng mắc của địa phương và kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ có giải pháp xử lý.
II - NHỮNG KẾT QUẢ CHỦ YẾU
1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về lao động, người có công và xã hội
Công tác xây dựng pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật lao động, người có công và xã hội năm 2009 đã có bước chuyển tích cực về chất lượng. Đây là năm đầu tiên thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 với những yêu cầu mới và nghiêm ngặt về lập chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, về quy trình, tiến độ, chất lượng soạn thảo, thẩm định, thẩm tra đánh giá tác động của dự thảo văn bản, tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng cơ quan Bộ đã phấn đấu hoàn thành: xây dựng trình Chính phủ trình Quốc hội dự án Luật Người khuyết tật; trình Chính phủ ban hành 01 Nghị quyết, 12 Nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành 8 Quyết định, 01 Chỉ thị; ban hành 37 Thông tư, phối hợp ban hành 4 Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp luật về lao động, người có công và xã hội và trên 5.000 báo cáo, công văn chỉ đạo, hướng dẫn, trả lời các cơ quan liên quan, các cấp chính quyền địa phương, doanh nghiệp, người dân... Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tham mưu với Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ban hành trên 2.400 văn bản (trung bình mỗi tỉnh khoảng 40 văn bản) chỉ đạo, hướng dẫn thực thi pháp luật, chính sách, chương trình, dự án, đề án của ngành trên địa bàn. Các văn bản ban hành đã tiếp tục thực hiện lộ trình cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp phát triển sản xuất, cải thiện đời sống. Đặc biệt nhiều chính sách, đề án mới ban hành trong năm đã phát huy tác dụng, góp phần cải thiện thu nhập, đời sống cho hàng chục triệu người, tạo ổn định xã hội, góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế được dư luận xã hội đồng tình, đánh giá cao.
2. Tạo việc làm, phát triển thị trường lao động; hỗ trợ doanh nghiệp, làng nghề, người lao động gặp khó khăn do suy giảm kinh tế
- Cùng với sự phục hồi của nền kinh tế, thị trường lao động vẫn tiếp tục được đầu tư phát triển; ngân sách trung ương đã hỗ trợ cho 31 Trung tâm Giới thiệu việc làm đầu tư cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất, mua sắm trang, thiết bị nâng cao năng lực hoạt động của sàn giao dịch việc làm và hệ thống thông tin thị trường lao động. Các hoạt động tư vấn, thông tin thị trường lao động được mở rộng trên phạm vi cả nước: triển khai hoạt động Trung tâm Quốc gia dự báo và thông tin thị trường lao động, bước đầu đã tổ chức theo dõi, nắm bắt tình hình lao động thiếu việc làm, mất việc làm trong các doanh nghiệp do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế; triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu về lao động việc làm; ra mắt cổng thông tin điện tử quốc gia về việc làm; phát triển sàn giao dịch việc làm ở 20 tỉnh, thành phố với trên 150 phiên giao dịch, đặc biệt một số địa phương như Hà Nội, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh...được tổ chức thường xuyên theo tuần, tháng... kết nối cung – cầu lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tìm việc làm có thu nhập hợp lý, bền vững; đặc biệt một bộ phận trong số lao động bị mất việc làm tại các doanh nghiệp gặp khó khăn do duy giảm kinh tế đã tìm được việc làm mới thông qua các sàn giao dịch việc làm.
- Theo dõi chặt chẽ ảnh hưởng của suy giảm kinh tế đến việc làm, đề xuất ban hành chính sách hỗ trợ đối với người lao động mất việc làm trong doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế và tổ chức thực hiện kịp thời, hiệu quả các chính sách đã ban hành.
- Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm, các doanh nghiệp, làng nghề gặp khó khăn phải thu hẹp sản xuất... hạn chế lớn đến tạo việc làm, nhưng với sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, nỗ lực của cả nước, đặc biệt đóng góp của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, các doanh nghiệp lớn... đã chia sẻ với nhà nước, không những không sa thải người lao động mà nhiều doanh nghiệp còn tìm mọi giải pháp tìm kiếm hợp đồng, duy trì và tiếp tục đầu tư, mở rộng sản xuất, bảo đảm việc làm và tạo thêm nhiều việc làm mới. Kết quả tạo việc làm 1.510 ngàn người, bằng 93,5% thực hiện năm 2008, đạt 88,8% kế hoạch năm (chỉ tiêu tạo việc làm không điều chỉnh theo chỉ tiêu kế hoạch giảm GDP), trong đó:
+ Tạo việc làm trong nước 1.437 ngàn người, bằng 93,6% thực hiện năm 2008, đạt 89,3% kế hoạch, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng 477 ngàn người; khu vực dịch vụ 505 ngàn người, khu vực nông nghiệp 455 ngàn người; 3 vùng kinh tế trọng điểm tạo việc làm 820 ngàn người, bằng 57% cả nước. Quỹ quốc gia Việc làm cho vay trên 1.600 tỷ đồng (vốn bổ sung mới 313 tỷ đồng, vốn thu hồi 1.300 tỷ đồng), tạo việc làm trên 250 ngàn người. Do tác động không đều của khủng hoảng nên một số địa phương vẫn đạt trên 100% kế hoạch năm, bằng và cao hơn thực hiện năm 2008. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị 4,66%. Tỷ trọng lao động: nông, lâm, ngư nghiệp 51,3%; công nghiệp và xây dựng 21,5%; dịch vụ 27%.
+ Xuất khẩu lao động 73.028 người, bằng 85,9% thực hiện năm 2008 và 81,1% kế hoạch năm, đây là sự nỗ lực rất lớn của ngành, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Triển khai thực hiện Đề án Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo nhanh, bền vững giai đoạn 2009-2020, mặc dù đến cuối tháng 10 mới được bố trí kinh phí để thực hiện, nhưng Bộ đã chủ động phối hợp với các địa phương, doanh nghiệp tổ chức triển khai thực hiện thí điểm tại 28 huyện thuộc 10 tỉnh ngay từ đầu tháng 5, đã tuyển chọn đào tạo ngoại ngữ, học nghề cho 3.500 người, trong đó 1.000 người đã được xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài.
3. Thực hiện pháp luật lao động; xây dựng quan hệ lao động hài hòa, cải thiện điều kiện lao động
- Xây dựng và triển khai thực hiện Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp; thực hiện tập trung việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp ở 3 vùng kinh tế trọng điểm. Ủy ban quốc gia về quan hệ lao động đã chỉ đạo và đôn đốc các ngành, tỉnh, thành phố thực hiện nhiều hoạt động thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra tình hình thực hiện pháp luật lao động tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, kịp thời chấn chỉnh, xử lý những cơ sở vi phạm; phân loại, xếp hạng, biểu dương, khen thưởng các cơ sở thực hiện tốt pháp luật lao động... Quan hệ lao động có nhiều cải thiện, tranh chấp lao động, đình công giảm 70% về số vụ so với năm 2008, đặc biệt ở các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm như Hà Nội, Hải Dương, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh…; không xảy ra các cuộc đình công quy mô lớn, kéo dài, quá khích ảnh hưởng đến trật tự an ninh xã hội và môi trường đầu tư.
- Thực hiện điều chỉnh lương tối thiểu trong các loại hình doanh nghiệp phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội góp phần cải thiện tiền lương, thu nhập cho người lao động; qua kiểm tra cho thấy hầu hết các doanh nghiệp thực hiện tốt mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định và trả cao hơn mức quy định tối thiểu vùng từ 10% trở lên[15].
- Công tác tuyên truyền, kiểm tra, giám sát thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp được tăng cường, đặc biệt đã kiên quyết xử lý những doanh nghiệp cố tình vi phạm, do đó số doanh nghiệp vi phạm đã giảm, số lao động được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc 9.420,5 ngàn người, thu bảo hiểm xã hội 36.222 tỷ đồng, đạt 121% so với dự toán đầu năm. Đã hoàn thành chuyển Bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An sang Bảo hiểm xã hội tự nguyện, tổng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt 47.100 người, tăng 17.100 người so với năm 2008; thu bảo hiểm xã hội tự nguyện 69,5 tỷ đồng, đạt 157% dự toán đầu năm.
- Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện bảo hiểm thất nghiệp; chỉ đạo các đơn vị chuyên môn thông tin, tuyên truyền các chính sách về bảo hiểm thất nghiệp trên các phương tiện thông tin đại chúng; phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức hội nghị tập huấn triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho 63 Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, các Trung tâm giới thiệu việc làm và các cơ quan liên quan; thành lập đưa vào hoạt động Bảo hiểm thất nghiệp Việt Nam; đã có khoảng 2.900 ngàn người đăng ký tham gia bảo hiểm thất nghiệp, thu bảo hiểm thất nghiệp đạt 1.436 tỷ đồng.
- Tổ chức tuần lễ Quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động lần thứ XI tại Lâm Đồng và phát động trong cả nước có tác động tích cực đến ý thức chấp hành pháp luật an toàn lao động trong doanh nghiệp và người lao động. Thực hiện đồng bộ các dự án, hoạt động của Chương trình quốc gia Bảo hộ lao động giai đoạn 2006-2010, đặc biệt tập trung vào những ngành, lĩnh vực có nguy cơ tai nạn cao; công tác thông tin tuyên truyền, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, các hoạt động tự kiểm tra của doanh nghiệp, kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý được tăng cường… đã tác động tích cực đến nhận thức về an toàn, vệ sinh lao động của người sử dụng lao động và người lao động. Tai nạn lao động giảm 21,58% về số vụ, 22,44% về số người bị tai nạn, trong đó số người chết giảm 10,15%; tỷ lệ mắc mới bệnh nghề nghiệp giảm 9,3% so với năm 2008.
4. Phát triển quy mô, nâng cao chất lượng dạy nghề đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
- Hệ thống dạy nghề tiếp tục được phát triển theo quy hoạch, trong năm 2009, cả nước đã thành lập thêm 17 trường cao đẳng nghề, 50 trường trung cấp nghề. Đến nay, cả nước có 107 trường cao đẳng nghề, 264 trường trung cấp nghề, 864 trung tâm dạy nghề và trên một ngàn các cơ sở khác có tổ chức hoạt động dạy nghề, gồm: các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ.
- Hệ thống dạy nghề đã tập trung mọi nguồn lực và chuyển biến rõ nét về chất lượng dạy nghề, chuyển mạnh dạy nghề gắn với thị trường lao động:
+ Các cơ sở dạy nghề đã bước đầu thực hiện tuyển sinh theo yêu cầu của doanh nghiệp; các hình thức liên kết giữa cơ sở với doanh nghiệp (liên kết thực hành, giới thiệu việc làm, tuyển dụng, hỗ trợ giáo viên, thiết bị dạy nghề…) được phát triển ở nhiều địa phương, gắn học với thực hành, nâng uy tín, thương hiệu các trường nghề với doanh nghiệp và người lao động; tổ chức nhiều hình thức dạy nghề phong phú, đa dạng phù hợp với từng đối tượng học nghề; xây dựng và nhân rộng nhiều mô hình dạy nghề có hiệu quả như dạy nghề tại doanh nghiệp, dạy nghề gắn với thị trường, tạo việc làm, xuất khẩu lao động. Đặc biệt, các cơ sở dạy nghề trong doanh nghiệp tuy không được hỗ trợ từ ngân sách, nhưng do đổi mới chương trình đào tạo gắn với sản xuất, đáp ứng theo yêu cầu thị trường nên chỉ tiêu tuyển mới tăng trên 15%, trên 90% học sinh ra trường có việc làm;
+ Thủ tục, quy trình tuyển sinh dạy nghề được đổi mới; thông tin về tuyển sinh được các cơ sở dạy nghề truyền tải bằng nhiều hình thức đến tận các huyện, xã, cơ sở giáo dục phổ thông tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên tiếp cận với dạy nghề;
+ Tổ chức các hoạt động đánh giá và tiếp tục phát huy dạy nghề trong doanh nghiệp; dạy nghề cho lao động người dân tộc thiểu số; thí điểm đặt hàng dạy nghề gắn với phát triển vùng chuyên canh cây trồng vật nuôi; đặt hàng dạy nghề cho xuất khẩu lao động, góp phần quan trọng chuyển hướng dạy nghề theo nhu cầu sản xuất;
+ Tổ chức hội giảng giáo viên dạy nghề toàn quốc để nhân rộng các điển hình tiên tiến; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng trên 3 ngàn giáo viên dạy nghề cho các trường nghề (trong đó đã đào tạo trên 100 giáo viên tiếp cận trình độ quốc tế) và đội ngũ giáo viên dạy nghề cho các trung tâm dạy nghề cấp huyện, từng bước nâng cao tỷ lệ giáo viên dạy nghề đạt chuẩn.
+ Lần thứ 2 Việt Nam tham dự hội thi tay nghề thế giới, tổ chức lần thứ 41 ở Canada, đã dành được 4 chứng chỉ nghề xuất sắc, xếp thứ 30 trong tổng số 51 quốc gia dự thi, cao hơn kết quả dự thi lần trước.
- Tổ chức thực hiện đồng bộ dự án tăng cường năng lực dạy nghề thuộc Chương trình Mục tiêu Quốc gia Giáo dục – Đào tạo. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề tiếp tục được nâng cấp, đầu tư mới từ các nguồn ngân sách trung ương, địa phương, vốn ODA, vốn đầu tư của các thành phần kinh tế... bước đầu hình thành hệ thống các trường dạy nghề trọng điểm, trong đó một số trường đã được đầu tư trang, thiết bị dạy nghề đồng bộ, hiện đại cho một số nghề, cơ bản đáp ứng yêu cầu dạy và học nghề.
- Triển khai đề án Dạy nghề nông dân ngay trong tháng 12/2009 sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 11/2009: tổ chức hội nghị triển khai đến 63 tỉnh/thành phố; thông tin tuyên truyền, phổ biến đề án trên các phương tiện thông tin đại chúng; hướng dẫn các tỉnh, thành phố xây dựng đề án triển khai thực hiện trên địa bàn; xây dựng kế hoạch, dự toán ngân sách trình Chính phủ bố trí kinh phí để thực hiện đề án năm 2009 và năm 2010; xây dựng tiêu chí, phương án phân bổ kinh phí cho các tỉnh, thành phố…
- Kết quả tuyển mới dạy nghề 1.707.000 người đạt 104,5% so với kế hoạch, tăng 11,2% so với thực hiện năm 2008, trong đó: cao đẳng, trung cấp nghề 287.600 người, đạt 94,3% kế hoạch; sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên 1.420.000 người, đạt 106% kế hoạch.
5. Thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách ưu đãi người có công
- Xác nhận, công nhận mới trên 50 ngàn người có công, trong đó công nhận mới 406 liệt sỹ; xử lý cho tiếp tục hưởng chính sách người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học với gần 250 trường hợp bị tạm dừng do chuyển đổi chính sách trong các thời kỳ khác nhau. Tiếp tục thực hiện giải quyết tồn đọng hồ sơ người có công, đặc biệt tập trung vào 20 tỉnh, thành phố còn nhiều hồ sơ; tổ chức các đoàn công tác đến các địa phương để cùng xem xét hồ sơ tồn đọng, phối hợp và đề xuất hướng xử lý bảo đảm quyền lợi cho đối tượng.
- Thực hiện chi trả kịp thời, đầy đủ trợ cấp ưu đãi thường xuyên cho trên 1,42 triệu người có công, do đổi mới phương thức cấp phát và chi trả nên thời gian chi trả sớm hơn trước từ 8 – 12 ngày; chi trả trợ cấp 1 lần cho trên 104 ngàn người hoạt động kháng chiến, thanh niên xung phong, người có công và thân nhân người có công với cách mạng; điều trị, điều dưỡng, chỉnh hình – phục hồi chức năng cho trên 300 ngàn người; hỗ trợ nâng cấp, sửa chữa trên 150 ngàn mộ liệt sỹ và trên 100 công trình ghi công liệt sỹ; các chính sách đều tăng về diện hưởng, mức hưởng, góp phần quan trọng nâng cao mức sống cho người có công, được các tầng lớp nhân dân đồng tình, ủng hộ.
- Các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa tiếp tục được nhân rộng: 89% hộ gia đình chính sách người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình dân cư nơi cư trú: 88% xã, phường, thị trấn cả nước được công nhận làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ và người có công; xây mới tặng 7.500 nhà, sửa chữa nâng cấp 12.500 nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách; 48 tỉnh, thành phố cơ bản xóa nhà tạm, nhà dột nát đối với hộ gia đình chính sách người có công; huy động quỹ đền ơn, đáp nghĩa trên 200 tỷ đồng. Đặc biệt nhân ngày thương binh, liệt sỹ 27/7, đã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Hội phật Giáo Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh…đã tổ chức dâng hương, cầu siêu, thắp trên 850 ngàn ngọn nến trong gần 3.000 nghĩa trang liệt sỹ tri ân, tưởng nhớ các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh vì tổ quốc.
6. Thực hiện mục tiêu giảm nghèo
Giảm nghèo hướng đến mục tiêu giảm nghèo bền vững, tập trung vào các địa bàn nghèo nhất, vùng dân tộc, miền núi. Việc tiếp cận giảm nghèo được thực hiện trên cả 3 phương diện: hỗ trợ phát triển sản xuất; đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở; hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản với gần 20 chính sách trên các phương diện để hỗ trợ hộ nghèo thoát nghèo….
- Các dự án, hoạt động của Chương trình Mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo được triển khai đồng bộ với nhiều giải pháp hiệu quả ả, đã tạo sự chuyển biến về nhận thức giảm nghèo ở các cấp, các ngành và người dân, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của hộ nghèo, đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo của cả nước.
- Thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo: các cơ quan chức năng đã triển khai đồng bộ hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình; 62 huyện đã có đề án được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt làm cơ sở cho việc tổ chức thực hiện trên địa bàn… Với hiệu quả từ nguồn lực đầu tư của các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo hiện hành, kết quả bước đầu thực hiện Nghị quyết 30a, tỷ lệ hộ nghèo trung bình của 62 huyện đã giảm từ 47% (năm 2008) xuống còn 41,38%.
Kết quả tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm còn 11,3% đạt kế hoạch Quốc hội, Chính phủ giao, trong đó: Đông Bắc bộ 16,62%; Tây Bắc bộ 24,75%; Đồng bằng Sông Hồng 6,46%; Bắc Trung bộ 18,08%; Duyên hải Miền Trung 11,99%; Tây Nguyên 13,34%; Đông Nam bộ 3,59%; Đồng bằng sông Cửu Long 8,7%. Một số địa phương đã cơ bản xóa hết hộ nghèo theo chuẩn quốc gia và nâng mức chuẩn nghèo mới của địa phương cao hơn từ 2 đến 3 lần chuẩn quốc gia.
7. Bảo trợ xã hội
- Thực hiện trợ cấp xã hội thường xuyên cho trên 1,25 triệu người với mức thấp nhất là 120 ngàn đồng/người/tháng; các tỉnh/thành phố có điều kiện đã thực hiện trợ cấp cao hơn mức quy định của Chính phủ, các tỉnh nghèo được bổ sung ngân sách đảm bảo xã hội để chi trả đầy đủ cho đối tượng theo quy định; tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng gần 40 ngàn người tại 450 cơ sở Bảo trợ xã hội.
- Thực hiện Đề án trợ giúp người tàn tật đã triển khai thực hiện mô hình sinh kế thí điểm ở 5 xã; tiếp tục rà soát đối tượng ở 10 tỉnh, thành phố và tổ chức đôn đốc, kiểm tra tình hình thực hiện tại các địa phương. Thực hiện Pháp lệnh Người cao tuổi và Chương trình hành động người cao tuổi đã có gần 3,1 triệu người cao tuổi được trợ cấp lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc chính sách ưu đãi người có công; trên 57% hộ gia đình người cao tuổi có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng...
- Theo dõi sát tình hình thiếu đói giáp hạt, thiệt hại do thiên tai, kịp thời tổ chức cứu trợ tại địa phương, đặc biệt ở các tỉnh bị thiệt hại lớn như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Kon Tum...và đề xuất các giải pháp khắc phục hậu quả, nhanh chóng phục hồi sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, không để một người dân nào chết vì đói do thiên tai, bão lụt.
8. Bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Đã có sự chuyển biến tích cực về ý thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị trong công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em các cấp, đặc biệt trong công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách về bảo vệ, chăm sóc trẻ em, đảm bảo thực thi quyền của trẻ em trong đời sống xã hội và đầu tư nguồn lực của các ngành, các cấp, tổ chức, người dân... về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, tạo môi trường bình đẳng cho trẻ em ngày càng được thụ hưởng đầy đủ các quyền cơ bản của mình.
- Theo báo cáo từ các địa phương 95% trẻ em dưới 6 tuổi được phát thẻ khám bệnh, chữa bệnh miễn phí; 75% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được chăm sóc dưới nhiều hình thức khác nhau, trong ®ã: 284.525 em được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; 20.000 em được nuôi dưỡng tại các cơ sở Bảo trợ xã hội; trên 1,5 triệu em được cấp thẻ bảo hiểm y tế; 1,2 triệu em được miễn giảm học phí và các khoản đóng góp...
- Tổ chức phát động tháng hành động Vì trẻ em với chủ đề “Chung tay góp sức vì trẻ em nghèo”; tổ chức diễn đàn trẻ em ở 21 tỉnh/thành phố và trẻ diễn đàn trẻ em cấp Quốc gia với chủ đề “Trẻ em với các mục tiêu vì trẻ em”; tổ chức tết Trung thu cho trẻ em... được sự tham gia hưởng ứng nhiệt tình của các tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân... đã huy động được trên 150 tỷ đồng ủng hộ cho các hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp. Các hoạt động truyền thông, giáo dục, tư vấn về bảo vệ, chăm sóc trẻ em được đẩy mạnh: xây dựng và phát sóng 53 chương trình truyền hình “Vì trẻ thơ” trên Đài truyền hình Việt Nam; đường dây tư vấn và hỗ trợ trẻ em đã tiếp nhận trên 125 ngàn cuộc gọi, trong đó trên 19 ngàn ca được tư vấn, 190 ca được kết nối can thiệp ở cả 3 cấp độ... góp phần quan trọng vào kết quả thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch trên các lĩnh vực của ngành.
- Triển khai thực hiện kế hoạch phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em giai đoạn 2009-2010; nhân rộng các mô hình “ngôi nhà an toàn”, “cộng đồng an toàn”, “trường học an toàn”... đã thu được kết quả tốt: trẻ em bị tại nạn, đặc biệt tai nạn đuối nước giảm khoảng 30% so với năm 2008.
- Thực hiện đồng bộ, hiệu quả Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ em phải lao động trong điều kiện độc hại, nguy hiểm. Theo báo cáo từ các địa phương, năm 2009 trên 20 ngàn trẻ em lang thang; 18,2 ngàn trẻ em phải lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại nguy hiểm; 581 trẻ em bị xâm hại tình dục đã được trợ giúp.
- Quỹ Bảo trợ trẻ em các cấp đã huy động được trên 180 tỷ đồng, trong đó Quỹ trung ương huy động trên 18,6 tỷ đồng. §· triÓn khai thùc hiÖn c¸c ho¹t ®éng, trợ giúp: trên 50 ngàn lượt trẻ em được hỗ trợ bằng nhiều hình thức như thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ phẫu thuật, chỉnh hình – phục hồi chức năng...; xây dựng cơ sở phục hồi chức năng; hỗ trợ xây dựng công trình nước sạch, lớp học, trạm xá, điểm vui chơi tại địa phương và hỗ trợ cấp học bồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt...
9. Bình đẳng giới
- Xây dựng, kiện toàn hệ thống quản lý nhà nước về bình đẳng giới và Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp; tổ chức 25 lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho trên 1500 lượt cán bộ quản lý nhà nước và cộng tác viên thực hiện công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp.
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bình đẳng giới; thực hiện chương trình hành động quốc gia Vì sự tiến bộ phụ nữ giai đoạn 2006-2010; lồng ghép các chỉ tiêu, nội dung Bình đẳng giới vào kế haochj phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, các địa phương.
- Cùng với chính sách về giới và gia đình, Bình đẳng giới đã được tôn trọng và thực hiện trên tất các các hoạt động trong đời sống xã hội và đạt được nhiều sự tiến bộ, được quốc tế công nhận là Quốc gia thực hiện tốt việc cung cấp dịch vụ y tế và giáo dục bình đẳng cho cả nam và nữ; là nước có tỷ lệ Phụ nữ tham gia trong các cơ quan chính quyền, hội đồng nhân dân các cấp và Quốc hội cao nhất khu vực.
10. Phòng, chống chống tệ nạn xã hội
- Các tỉnh/thành phố đã chủ động ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể địa phương phối hợp chặt chẽ trong phòng, chống các tệ nạn xã hội; phát triển các hoạt động thông tin, tuyên truyền bằng nhiều hình thức; kiểm tra, kiểm soát các hoạt động dịch vụ nhạy cảm, dễ phát sinh tệ nạn xã hội … góp phần giảm phát sinh mới, chuyển hóa các địa bàn phức tạp về tệ nạn xã hội.
- Thực hiện đề án “Thí điểm mô hình xã, phường phòng ngừa, ngăn chặn phát sinh mới tệ nạn ma túy, mại dâm và cai nghiện, dạy nghề, tạo việc làm, hòa nhập cộng đồng cho người nghiện ma túy, người mại dâm” tại 58 xã, phường, thị trấn của 22 tỉnh, thành phố; đã xây dựng được một số mô hình hiệu quả bước đầu thu được kết quả: đã tạo được nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm đẩy lùi tệ nạn mại dâm, ma túy của chính quyền, người dân và của cả đối tượng; số đối tượng phát sinh mới tỷ lệ tái phạm, tái nghiện có xu hướng giảm …
- Hệ thống cơ sở Giáo dục - Lao động Xã hội tiếp tục được đầu tư phát triển; 41 cơ sở được đầu tư nâng cấp để đáp ứng yêu cầu tăng 20% quy mô và nâng cao chất lượng cai nghiện phục hồi cho đối tượng, trong đó 23 cơ sở được hỗ trợ đầu tư từ ngân sách trung ương, các cơ sở được đầu tư cơ bản thực hiện đúng tiến độ và phát huy được năng lực.
Kết quả đã tiếp nhận, cai nghiện ma túy cho 50 ngàn người (đạt 100% kế hoạch), trong đó 40 ngàn người được cai nghiện tại các cơ sở Giáo dục – Lao động Xã hội (tiếp nhận mới 20 ngàn người); dạy nghề, tạo việc làm cho 6 ngàn người; giáo dục, chữa trị phục hồi nhân cách 3 ngàn đối tượng mại dâm; dạy nghề, tạo việc làm hòa nhập cộng đồng cho 2 ngàn đối tượng mại dâm sau giáo dục, phục hồi; 1.006 xã, phường đăng ký mới đưa tổng số lên 7.556 xã, phường lành mạnh không có tệ nạn mại dâm, ma túy, chiếm 68,7% tổng số xã, phường cả nước.
11. Phát triển, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống đơn vị sự nghiệp thuộc ngành
- Hệ thống đơn vị sự nghiệp thuộc ngành với 900 đơn vị tiếp tục được quy hoạch, đầu tư, sắp xếp và phát triển. Các viện khoa học, trường đại học đã đi đầu trong công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ cho ngành; các cơ sở dạy nghề do ngành quản lý đã đào tạo trên 50% chỉ tiêu dạy nghề của cả nước; các cơ quan báo chí đã kịp thời, nhạy bén trong các hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách liên quan đến người dân, doanh nghiệp; các cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng, chỉnh hình- phục hồi chức năng cho trên 150 ngàn lượt người có công và trên 30 ngàn lượt đối tượng xã hội; cai nghiện, phục hồi cho trên 40 ngàn lượt đối tượng nghiện ma túy. Các đơn vị đã chủ động trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mở rộng hoạt động, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ phục vụ đối tượng, tăng nguồn thu và cải thiện đời sống cho đối tượng, tăng thu nhập cho cán bộ, nhân viên.
- Cùng với hệ thống đơn vị sự nghiệp trên, toàn ngành đang quản lý gần 3 ngàn nghĩa trang liệt sỹ, 3 ngàn công trình tưởng niệm liệt sỹ. Các nghĩa trang, công trình tưởng niệm được đầu tư nâng cấp, sửa chữa thường xuyên đảm bảo ngày càng khang trang, bền đẹp phục vụ tốt nhu cầu thăm viếng của thân nhân liệt sỹ, nhân dân và các cơ quan đoàn thể… góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ.
12. Thực hiện cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm chống lãng phí, tham nhũng
- Đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với triển khai Đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước, Bộ đã hoàn thành giai đoạn 1 của đề án, đang tiến hành giai đoạn 2 của đề án: rà soát 286 thủ tục hành chính thuộc 10 lĩnh vực của ngành; 13 thủ tục hành chính yêu cầu rà soát ưu tiên đã hoàn thành đúng tiến độ, trong đó kiến nghị bãi bỏ 01 thủ tục và đơn giản hóa 12 thủ tục; các thủ tục hành chính còn lại cơ bản đã được rà soát, đang được kiểm tra tại đơn vị. Tiếp nhận, xử lý nghiêm túc những kiến nghị, phản ánh của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính liên quan đến lĩnh vực của ngành.
- Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ đã triển khai xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống mạng tinh học phục vụ giao ban 6 tháng đầu năm; tổ chức hội nghị lấy ý kiến về Đề án Đổi mới và phát triển Dạy nghề đến năm 2020; Hội nghị trực tuyến về thực hiện Chương trình giảm nghèo nhanh, bền vững đối với 62 huyện nghèo nhằm kiểm tra, đánh giá tình hình triển khai Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP...
- Triển khai ứng dụng tin học vào quản lý văn bản, quản lý đối tượng, quản lý chi trả trợ cấp người có công, giao dịch giới thiệu việc làm... duy trì hoạt động trang Web của Bộ với nhiều thông tin cập nhật.
- Tổ chức thanh tra, kiểm tra tập trung vào những lĩnh vực nhạy cảm dễ nảy sinh tham nhũng, tiêu cực như: xây dựng cơ bản, quản lý tài chính, tài sản các đơn vị trực thuộc, xuất khẩu lao động, thực hiện chính sách đối với người có công... qua thanh tra, kiểm tra chưa phát hiện tham nhũng, tiêu cực lớn.
- Mở rộng nội dung giải quyết đơn thư và thủ tục hành chính tại cơ quan, đơn vị thuộc ngành theo kế hoạch cải cách hành chính của Chính phủ; thủ tục hành chính của bộ phận “một cửa”; triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 - 2000 vào hoạt động của một số bộ phận thuộc cơ quan Bộ. Các đơn vị thuộc Bộ phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh làm tốt công tác tiếp dân, xử lý trên 2.800 đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị ngay trên địa bàn, giảm thư đơn vượt cấp lên Bộ.
13. Các công tác khác
- Các hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế thực hiện đúng chủ trương của Đảng và nhà nước, đã đáp ứng tích cực yêu cầu, nhiệm vụ của Bộ/ngành đề ra ; bên cạnh việc tuân thủ và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của quốc gia thành viên, đã chủ động hơn trong việc tham gia vào các hoạt động của các tổ chức quốc tế và khu vực mà Bộ là đầu mối, được các đối tác đánh giá cao, góp phần tăng cường quan hệ hữu nghị và tạo tiền đề mở ra những khả năng hợp tác trong thời gian tới.
- Công tác tổ chức cán bộ các cấp có nhiều đổi mới: tổ chức bộ máy tiếp tục được kiện toàn ở các cấp; thành lập và đưa vào hoạt động Bệnh viện Chỉnh hình phục hồi chức năng Đà Nẵng, Trung tâm Quốc gia Dự báo Thông tin thị trường lao động, Trung tâm Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động. Quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt các cấp được thực hiện công khai, dân chủ, đúng quy định; đội ngũ cán bộ từ cơ quan Bộ đến các Sở, Phòng huyện được bổ sung nhiều cán bộ trẻ, được đào tạo chuyên môn góp phần nâng cao năng lực bộ máy nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt. Hướng dẫn triển khai thực hiện kịp thời Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 20/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, chính sách đối với cán bộ, công chức xã/phường/thị trấn.
- Công tác Kế hoạch – Tài chính các cấp đã tham mưu kịp thời, hiệu quả cho Lãnh đạo trong chỉ đạo, điều hành và đảm bảo nguồn lực thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ của ngành; triển khai kế hoạch, dự toán ngân sách đảm bảo tiến độ theo quy định; giải ngân các nguồn vốn nhanh hơn các năm trước, đặc biệt là vốn thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án đầu tư xây dựng do Bộ quản lý; quản lý tài chính, tài sản, đầu tư xây dựng cơ bản chặt chẽ, đúng chế độ, chính sách quy định.
- Nghiên cứu khoa học được các cấp đặc biệt quan tâm, cơ quan Bộ tổ chức nghiên cứu 2 đề tài độc lập cấp nhà nước, 1 đề tài thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước, 2 chương trình cấp Bộ và 29 đề tài khoa học cấp Bộ; hầu hết các địa phương đều có đề án, đề tài khoa học, trong đó 35 Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có đề tài khoa học cấp tỉnh/thành phố. Các đề tài nghiên cứu cung cấp những luận cứ khoa học và tổng kết thực tiễn cho hoạch định các chính sách, pháp luật, đề xuất cơ chế, giải pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ trong các lĩnh vực của ngành.
III - ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. Mặc dù chịu tác động, sức ép rất lớn trong bối cảnh kinh tế xã hội chung của cả nước nhưng các nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch trong lĩnh vực lao động, người có công và xã hội thực hiện trong năm đều đạt kết quả tích cực, đặc biệt là tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 11,3%; tuyển mới dạy nghề đạt 104,5% kế hoạch; tạo việc làm 1.510 ngàn người, trong đó xuất khẩu lao động trên 73 ngàn người là một kết quả rất cao trong điều kiện suy giảm kinh tế. Các nhiệm vụ về phát triển thị trường lao động, cải thiện quan hệ lao động; chăm sóc người có công; bảo vệ, chăm sóc trẻ em; bảo trợ xã hội; bình đẳng giới; cai nghiện phục hồi, phòng, chống mại dâm đều hoàn thành và có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiệm vụ xây dựng văn bản; cải cách hành chính, thực hiện Đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính; hợp tác quốc tế; thanh tra, kiểm tra, phòng chống lãng phí, tham nhũng… đều hoàn thành đúng tiến độ, yêu cầu.
2. Cùng với những thành tựu đã đạt được, lĩnh vực lao động, người có công và xã hội còn có những khó khăn, hạn chế không nhỏ, đó là:
- Triển khai hướng dẫn Pháp luật của cơ quan Bộ chưa kịp thời, Luật đã có hiệu lực nhưng văn bản hướng dẫn chưa đồng bộ; tổ chức thực hiện chính sách ở nhiều địa phương, cơ sở còn chậm; quản lý hộ nghèo, đối tượng xã hội… chưa thật tốt, còn sai sót trong việc thực hiện chính sách ở một số địa phương.
- Thị trường lao động chưa phát triển đồng bộ, người lao động còn khó tiếp cận với thông tin tuyển dụng của doanh nghiệp; quản lý lao động còn yếu, đặc biệt trong theo dõi, quản lý lao động mất việc làm do suy giảm kinh tế và lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam; tranh chấp lao động, đình công không đúng luật vẫn diễn ra ở các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm.
- Thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia tuy đã có chuyển biến nhưng nhìn chung triển khai kế hoạch và giải ngân còn chậm; chất lượng cao đẳng nghề, trung cấp nghề còn hạn chế, chưa thu hút được người học; dạy nghề cho nông dân mới tập trung tăng quy mô, chưa gắn với chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn…
- Đời sống nhân dân, nhất là hộ nghèo còn khó khăn; chuẩn nghèo còn thấp, chưa được điều chỉnh kịp thời do đó một bộ phận người nghèo không được hưởng đầy đủ các chính sách hỗ trợ của nhà nước; việc xây dựng và phê duyệt đề án giảm nghèo cho các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ còn chậm so với tiến độ yêu cầu.
- Tình trạng bạo lực, sử dụng lao động trẻ em, lạm dụng đối với trẻ em, trẻ em bị tai nạn… vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi gây bức xúc trong xã hội; số đối tượng nghiện ma túy, gái mại dâm vẫn tăng do quản lý địa bàn của chính quyền, cơ quan chức năng chưa tốt, chưa tạo môi trường để ngăn chặn, đẩy lùi nghiện ma túy, mại dâm.
- Việc chấp hành chế độ báo cáo của một số đơn vị chưa nghiêm, chất lượng chưa cao, tiến độ chưa đạt yêu cầu; chất lượng dự báo trong các lĩnh vực của ngành chưa cao do hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chưa đảm bảo; đầu tư cho nghiên cứu những vấn đề mới, phương pháp tiếp cận mới chưa thoả đáng, dẫn đến tình trạng còn bị động, chưa kịp thời trong đề xuất xử lý những vấn đề phát sinh.
Nguyên nhân những tồn tại, yếu kém trên, một mặt do tác động của những nguyên nhân khách quan như: suy giảm kinh tế, thiên tai, dịch bệnh; bộ máy quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của ngành ở địa phương chưa được quan tâm tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ, nhất là cấp huyện mỗi cán bộ kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực; cấp xã không có cán bộ chuyên trách… thì nguyên nhân chủ quan trước tiên phải kể đến đó là nhận thức và năng lực của bộ máy quản lý nhà nước còn bất cập, chưa kịp thời đề xuất, bổ sung chính sách, cơ chế phù hợp thực tiễn; chỉ đạo, điều hành tuy có chuyển biến nhưng chưa đều, tổ chức thực hiện có lúc, có nơi còn hành chính, quan liêu, thiếu kiểm tra, giám sát chặt chẽ.
PHẦN THỨ HAI
NHIỆM VỤ, KẾ HOẠCH NĂM 2010
I - MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
Năm 2010, năm cuối cùng thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001-2010) và kế hoạch 5 năm (2006-2010), vì vậy việc thực hiện thắng lợi kế hoạch năm 2010 có ý nghĩa quan trọng đến việc hoàn thành các mục tiêu chiến lược 10 năm và kế hoạch 5 năm, tạo tiền đề để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn sắp tới; năm 2010 cũng là năm tiến hành Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và là năm diễn ra nhiều sự kiện văn hóa – xã hội quan trọng của quốc gia.
Bước vào năm 2010, trong điều kiện có những thuận lợi cơ bản do sự ổn định chính trị - xã hội và những thành quả đã đạt được những năm qua; các giải pháp chính sách kích thích kinh tế đã ban hành sẽ tiếp tục có tác động tích cực… Bên cạnh đó cũng còn nhiều khó khăn, thách thức: theo dự báo kinh tế thế giới còn tiếp tục khó khăn, những vấn đề hậu khủng hoảng như: bảo hộ mậu dịch, biến động giá cả, lạm phát, khan hiếm nguyên, nhiên liệu... sẽ tiếp tục tác động xấu đến phát triển kinh tế các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển như nước ta; trong nước ảnh hưởng của lạm phát cao năm 2008, suy giảm kinh tế năm 2009, các cân đối vĩ mô chưa thực sự ổn định, hệ thống tài chính còn nhiều nguy cơ rủi ro, sức cạnh tranh của cả nền kinh tế và của doanh nghiệp còn ở mức thấp; tình hình thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó lường...
Từ bối cảnh trong nước và quốc tế trên, căn cứ mục tiêu của kế hoạch 5 năm (2006-2010); Nghị quyết Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2010, chỉ tiêu kế hoạch lĩnh vực lao động, người có công và xã hội phải phấn đấu hoàn thành kế hoạch 5 năm, theo đó kế hoạch năm 2010 phải hoàn thành các chỉ tiêu:
(1). Tạo việc làm cho 1.600 ngàn người, trong đó: tạo việc làm trong nước 1.515 ngàn người; xuất khẩu lao động 85 ngàn người. Tỷ lệ thất nghiệp lao động trong độ tuổi khu vực thành thị dưới 4,7%. Cơ cấu lao động: nông, lâm, ngư nghiệp 50%; công nghiệp và xây dựng 21%; dịch vụ 29%.
Cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động; cải thiện điều kiện làm việc, giảm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tranh chấp lao động.
(2). Tuyển mới dạy nghề cho 1.748.000 người, trong đó, đào tạo trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề là 360.400 người, tăng 17% so với thực hiện năm 2009, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 30%.
(3). 90% hộ gia đình chính sách người có công có mức sống bằng, hoặc cao hơn mức sống bình quân dân cư nơi cư trú; xây mới 5.000 nhà, sửa chữa, nâng cấp 10.000 nhà tình nghĩa; hoàn thành cơ bản kiên cố hóa nhà ở cho đối tượng chính sách; 92% số xã, phường cả nước làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ, người có công; huy động quỹ đền ơn đáp nghĩa 200 tỷ đồng.
(4). Giảm tỷ lệ hộ nghèo cả nước xuống dưới 9,5%; tỷ lệ hộ nghèo tại 62 huyện nghèo dưới 40% (theo chuẩn hiện hành).
(5). Thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách đã ban hành cho đối tượng bảo trợ xã hội; cải thiện, nâng cao mức sống cho đối tượng, tạo điều kiện để đối tượng khó khăn, yếu thế vươn lên hòa nhập cộng đồng.
Hỗ trợ kịp thời, bảo đảm ổn định đời sống nhân dân vùng bị thiên tai, dịch bệnh, mất mùa.
(6) Thực hiện các quyền của trẻ em, tạo môi trường an toàn, lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn diện, ngăn chặn, đầy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em: 80% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được bảo vệ, chăm sóc; 55% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn phù hợp với trẻ em; 100% trẻ em dưới 6 tuổi được tiếp cận các dịch vụ y tế không phải trả tiền.
(7). Đảm bảo sự bình đẳng của phụ nữ trong tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội và gia đình. Tỷ lệ nữ trong tổng số lao động được tạo việc làm mới đạt 50%, trong tuyển mới dạy nghề đạt 43%.
(8). Giáo dục, chữa bệnh cho 3 ngàn đối tượng mại dâm; dạy nghề, tạo việc làm, hoàn lương cho 2 ngàn người. Cai nghiện, phục hồi 50 ngàn người nghiện ma túy, trong đó cai nghiện mới 20 ngàn người; dạy nghề, tạo việc làm sau cai cho 6 ngàn người. Xây dựng, chuyển hóa thêm 1 ngàn xã, phường lành mạnh không có tệ nạn ma túy, mại dâm.
II - NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
1. Đảm bảo tiến độ, xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình, đề án Luật, văn bản quy phạm pháp luật
- Nâng cao chất lượng công tác xây dựng, thẩm định bảo đảm tính đồng bộ và kịp thời trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, giải quyết một bước cơ bản tình trạng Luật, chính sách ban hành đã có hiệu lực nhưng chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện. Tập trung nghiên cứu xây dựng trình dự án Bộ Luật lao động (sửa đổi); 14 Nghị định của Chính phủ; 14 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; ban hành theo thẩm quyền, phối hợp ban hành 58 Thông tư và Thông tư liên tịch.
- Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nghiên cứu, xây dựng trình Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản chỉ đạo thực hiện pháp luật về lao động, người có công và xã hội trên địa bàn; các cơ chế, chính sách đặc thù; các Chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình quốc gia, Dự án, Đề án...; xây dựng mô hình, cách làm phù hợp của địa phương để tổ chức thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao.
- Các đơn vị trong ngành xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tuyên truyền, phổ biến pháp luật; lồng ghép với các chương trình, dự án, phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng để thực hiện theo các hình thức phù hợp; đặc biệt phát huy năng lực của Báo Lao động – Xã hội, Tạp chí Lao động – Xã hội, Tạp chí Gia đình và trẻ em, Trung tâm tư vấn và dịch vụ truyền thông đề thực hiện tuyên truyền, phổ biến pháp luật các lĩnh vực của ngành.
2. Phát triển thị trường lao động, tạo nhiều việc làm cho người lao động
- Tập trung cải thiện môi trường đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư phát triển, thúc đẩy phục hồi tăng trưởng kinh tế tạo việc làm có thu nhập ổn định cho 1.515 ngàn lao động, trong đó:
+ Các tỉnh, thành phố thuộc 3 vùng kinh tế trọng điểm đẩy nhanh, mạnh công tác dạy nghề, nhất là cao đẳng, trung cấp nghề; mở rộng hoạt động giao dịch và thông tin thị trường lao động; phát triển doanh nghiệp quy mô khá và công nghệ cao; phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn, phục vụ gia đình… thu hút khoảng 900 ngàn lao động, trong đó 600 ngàn lao động tại địa phương và 300 ngàn lao động từ các địa phương khác đến làm việc.
+ Các tỉnh khác đẩy mạnh công tác dạy nghề, đặc biệt là dạy nghề cho lao động nông thôn, thanh niên dân tộc để cung ứng khoảng 300 ngàn lao động cho các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm và tạo việc làm tại địa phương cho khoảng 615 ngàn người, trong đó chuyển 305 ngàn lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ tại địa phương.
- Làm tốt công tác dự báo, tổng hợp nhu cầu sử dụng lao động theo ngành, nghề, cấp trình độ và địa bàn; xây dựng và phát huy hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin về thị trường lao động; phát triển và hoạt động có hiệu quả sàn giao dịch việc làm tại 40 tỉnh/thành phố, kết nối cung - cầu lao động trên phạm vi cả nước, góp phần tích cực hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động.
- Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia việc làm: tập trung nguồn vốn bổ sung Quỹ quốc gia Việc làm cho các vùng khó khăn phát triển tự tạo việc làm; các dự án chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất; phát triển làng nghề, kinh tế trang trại, mô hình làng thanh niên lập nghiệp. Tập trung các giải pháp để đẩy mạnh dạy nghề, đồng bộ với hỗ trợ tín dụng, giống, phương tiện sản xuất, tiêu thụ sản phẩm để khuyến khích các hộ gia đình phát triển sản xuất, tự tạo việc làm.
- Thực hiện các chính sách hỗ trợ thanh niên, người nghèo vay vốn học nghề, làm thủ tục xuất khẩu lao động; đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo nhanh, bền vững giai đoạn 2009-2020; đổi mới căn bản công tác đào tạo, huấn luyện người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài; tăng cường quản lý, bảo vệ quyền lợi cho người lao động làm việc ở nước ngoài; kiểm tra, giám sát chặt chẽ, kiên quyết đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, vi phạm trong xuất khẩu lao động. Phấn đấu đưa 85 ngàn lao động đi làm việc ở nước ngoài.
3. Thực hiện pháp luật lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, cải thiện điều kiện lao động.
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các qui định về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp… trong khu vực doanh nghiệp; nghiên cứu đổi mới cơ chế, chính sách tiền lương để khuyến khích người lao động phát huy sáng kiến, tăng năng suất lao động và góp phần thu hút nhân tài.
- Thực hiện Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động đến người sử dụng lao động và người lao động; triển khai thí điểm cơ chế, quy trình đàm phán, thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc cụm, nhóm doanh nghiệp; nhân rộng mô hình xây dựng quan hệ lao động hài hòa, lành mạnh trong doanh nghiệp; củng cố, tăng cường và chuyên nghiệp hóa lực lượng thanh tra lao động, cán bộ làm công tác lao động tại các cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh, huyện, khu công nghiệp, khu chế xuất; mở rộng hoạt động của Trung tâm Quốc gia về Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động.
- Hoàn thiện tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý; tuyển chọn, tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ; đầu tư cơ sở vật chất, trang, thiết bị… cho các đơn vị thực hiện Bảo hiểm thất nghiệp các cấp, để đảm bảo tổ chức thực hiện đầy đủ chính sách Bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
- Thực hiện Chương trình Quốc gia về Bảo hộ lao động; xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh cải thiện điều kiện lao động, phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; đảm bảo người sử dụng lao động, cán bộ làm công tác an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp được bồi dưỡng, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động; xây dựng Quỹ bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
4. Tăng quy mô, nâng cao chất lượng dạy nghề, tạo cơ hội việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động
- Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển hệ thống dạy nghề, đặc biệt là quy hoạch phát triển trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề theo đề án phát triển dạy nghề đến năm 2020.
- Nâng cao năng lực các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề đạt chuẩn quốc gia, đáp ứng nhu cầu lao động chất lượng cao cho các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế, các khu công nghiệp, khu chế xuất, xuất khẩu lao động; tập trung đầu tư 3 trường cao đẳng nghề tiếp cận trình độ dạy nghề tiên tiến của các nước Đông Nam Á, 25 trường thực hiện nhiệm vụ dạy nghề cho học sinh dân tộc thiểu số nội trú; trên địa bàn mỗi tỉnh/thành phố tập trung đầu tư để có trường đạt chuẩn quốc gia phục vụ nhu cầu của thị trường lao động địa phương, nhất là các tỉnh ở vùng Tây Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc. Ưu tiên đầu tư và tăng cường quản lý, bảo đảm hiệu quả hoạt động của các trung tâm dạy nghề thuộc các huyện, các trường trung cấp nghề thủ công mỹ nghệ ở các tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống để tham gia tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
- Triển khai thực hiện đồng bộ chương trình đào tạo giáo viên dạy nghề các cấp trình độ; phát triển khoa sư phạm kỹ thuật ở một số trường Cao đẳng nghề cho từng vùng; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ giáo viên để nâng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo các trường Đại học sư phạm kỹ thuật hiện có; đầu tư để nâng cấp trường Cao đẳng sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long thành trường đại học.
- Hoàn thiện quy định về kiểm định chất lượng cơ sở dạy nghề; thực hiện kiểm định chương trình đào tạo nghề; kiểm định chất lượng dạy nghề đối với các cơ sở dạy nghề. Xây dựng các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia theo 5 bậc trình độ; tổ chức đánh giá kỹ năng nghề cho người lao động, trước mắt là các nghề thi trong khu vực ASEAN, các nghề trong lĩnh vực khai thác than, du lịch.
- Phát triển các hoạt động về dự báo cung - cầu lao động, giới thiệu việc làm trong các cơ sở dạy nghề; tiếp tục thực hiện cơ chế đấu thầu, đặt hàng chỉ tiêu đào tạo nghề từ ngân sách nhà nước; xây dựng cơ chế liên kết dạy nghề theo nhu cầu của doanh nghiệp. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dạy nghề làm cơ sở phân tích, dự báo nhu cầu dạy nghề theo quy mô, cấp trình độ, ngành, nghề và từng địa bàn; tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về học nghề và định hướng nghề nghiệp cho học sinh ngay từ cấp học phổ thông nhằm phân luồng học sinh vào học nghề sau trung học cơ sở.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, chú trọng thanh tra chuyên môn để nâng cao chất lượng dạy nghề.
- Thực hiện đồng bộ, hiệu quả Dự án Nâng cao năng lực dạy nghề (Chương trình Mục tiêu Quốc gia Giáo dục và Đào tạo); Đề án đổi mới và phát triển dạy nghề đến năm 2020; Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2008-2015. Phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện tốt chính sách cho vay đối với học sinh, sinh viên học nghề theo Quyết định 157/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động học nghề, tạo việc làm.
- Triển khai đồng bộ, hiệu quả Đề án dạy nghề cho nông dân theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ: xây dựng hoàn thiện các văn bản hướng dẫn làm cơ sở thực hiện trên cả nước; Sở Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng, trình Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố phê duyệt đề án tổng thể để thực hiện trên địa bàn; trước mắt tập trung chỉ đạo xây dựng kế hoạch thực hiện năm 2010 để triển khai ngay trong quý I/2010, đảm bảo thực hiện 400 ngàn chỉ tiêu dạy nghề cho nông dân.
5. Thùc hiÖn ®Çy ®ñ, kÞp thêi chÝnh s¸ch u ®·i, c¶i thiÖn ®êi sèng vËt chÊt, tinh thÇn ngêi cã c«ng
- Tiếp tục điều chỉnh mức trợ cấp người có công phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước; xác nhận, công nhận người có công còn tồn đọng để những người thực sự có công với cách mạng được hưởng đầy đủ chính sách ưu đãi của nhà nước.
- Đẩy mạnh phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn” huy động mọi nguồn lực trong xã hội, góp phần nâng cao mức sống gia đình người có công và đào tạo, bồi dưỡng thế hệ con em người có công tiếp tục phát huy truyền thống, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
- Quy hoạch, sắp xếp, đầu tư mạng lưới cơ sở nuôi dưỡng, chỉnh hình – phục hồi chức năng… cho người có công; đầu tư nâng cấp các công trình nghĩa trang liệt sỹ các tỉnh biên giới, nghĩa trang liệt sỹ lớn gắn với di tích lịch sử cách mạng; thực hiện đề án hỗ trợ 200 xã đặc biệt khó khăn có đông nạn nhân bị hậu quả chất độc hóa học; xây dựng và triển khai thực hiện đề án tìm kiếm, quy tập, xác định hài cốt liệt sỹ còn thiếu thông tin; hoàn thành thực hiện báo tin mộ liệt sỹ đến gia đình; thực hiện di chuyển mộ liệt sỹ theo nguyện vọng của thân nhân; xây dựng cơ sở dữ liệu người có công.
6. Tập trung nguồn lực đầu tư, thực hiện giảm nghèo bền vững
- Thực hiện hiệu quả các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10%; lồng ghép các chương trình, dự án trên địa bàn nhằm giảm nghèo bền vững; tập trung chỉ đạo thực hiện tốt dạy nghề, nâng cao kiến thức, trình độ tay nghề cho người nghèo để tạo việc làm tại chỗ, tham gia lao động trong tỉnh, ngoài tỉnh và xuất khẩu lao động, thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu.
- Tập trung chỉ đạo, giám sát thực hiện Chương trình giảm nghèo đối với 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ; hoàn thành 100% hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo theo Quyết định 167/2009/QĐ-TTg, trước mắt cơ bản hoàn thành nhà ở cho hộ nghèo tại 62 huyện nghèo trước tết Canh Dần.
- Ban hành chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận quốc tế và tổ chức rà soát, đánh giá xác định hộ nghèo để thực hiện cho giai đoạn 2011-2015; xây dựng chiến lược giảm nghèo đến năm 2020; Chương trình Mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo giai đoạn 2011-2015; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia Giảm nghèo.
7. Tăng cường hoạt động b¶o trî, trî gióp x· héi
- Triển khai thực hiện Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật với các hoạt động: xây dựng hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện; xây dựng hệ thống chỉ tiêu theo dõi, giám sát, đánh giá; điều tra, thống kê đối tượng, xây dựng cơ sở dữ liệu; tuyên truyền, tập huấn nâng cao năng lực cán bộ; xây dựng, triển khai thực hiện mô hình, đề án trợ giúp…
- Rà soát đối tượng bảo trợ xã hội đối với những nội dung mới được điều chỉnh của Nghị định 67/2007/NĐ-CP; thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách đã ban hành đối với những người yếu thế trong xã hội; đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia giúp đỡ những người thiệt thòi trong xã hội, phát triển và sử dụng có hiệu quả các quỹ từ thiện, nhân đạo…
- Triển khai thực hiện đề án phát triển nghề công tác xã hội; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán sự xã hội, hình thành mạng lưới cán sự xã hội tại thôn, bản; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo trợ xã hội.
- Quy hoạch và đầu tư từ đa nguồn mạng lưới các cơ sở nuôi dưỡng, chăm sóc và tư vấn cho các đối tượng xã hội, nhất là người tâm thần mãn tính, người tàn tật không nơi nương tựa… Thực hiện hiệu quả đề án, dự án giải quyết người lang thang, xin ăn ở các tỉnh/thành phố trọng điểm; đề án trợ giúp người tàn tật; đề án thí điểm nhà xã hội nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, tàn tật không nơi nương tựa tại xã, phường...
- Theo dõi sát tình hình thiếu đói giáp hạt, thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh để chỉ đạo kịp thời hoạt động cứu trợ tại địa phương và đề xuất các giải pháp khắc phục hậu quả. Chủ động nguồn lực tại chỗ để hỗ trợ, cứu trợ kịp thời cho người dân vùng bị thiên tai, dịch bệnh, không để người dân bị đói, trẻ em bỏ học, tạo điều kiện cho họ ổn định đời sống và sản xuất.
8. Tạo môi trường thuận lợi để thực hiện toàn diện quyền trẻ em
- Phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị trong công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em các cấp; Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật, chính sách về bảo vệ, chăm sóc trẻ em; đảm bảo thực thi quyền của trẻ em trong đời sống xã hội.
- Mở rộng các hoạt động truyền thông, giáo dục, tư vấn về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trên các phương tiện thông tin đại chúng; duy trì, phát triển đường dây tư vấn và hỗ trợ trẻ em.
- Thực hiện đồng bộ, hiệu quả Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm.
- Triển khai nhân rộng mô hình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em; mô hình phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em; mô hình bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhất là trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS, trẻ khuyết tật, trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ em bị buôn bán qua biên giới…
- Củng cố, tăng cường bộ máy làm công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em các cấp; kiện toàn, đổi mới và phát huy hiệu quả hệ thống; kiện toàn, đổi mới và phát huy hiệu quả hệ thống Quỹ Bảo trợ trẻ em các cấp; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo vệ và chăm sóc trẻ em; xây dựng Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015.
9. Thực hiện bình đẳng giới
- Tổ chức triển khai thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết số 11/NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phối hợp thực hiện tốt 5 mục tiêu Vì sự tiến bộ phụ nữ: tạo cơ hội cho chị em dưới 40 tuổi được xóa nạn mù chữ; tăng tỷ lệ lao động nữ trong tổng số lao động được tạo việc làm mới lên trên 46%, tỷ lệ phụ nữ được tuyển mới dạy nghề trên 40%; đảm bảo phụ nữ có nhu cầu được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về Luật Bình đẳng giới và các văn bản hướng dẫn thi hành một cách thiết thực, phù hợp với từng ngành, từng địa phương, từng nhóm đối tượng để tạo sự chuyển biến sâu sắc nhận thức về Bình đẳng giới trong xã hội; lồng ghép mục tiêu, chỉ tiêu bình đẳng giới và kế hoạch hành động vì sự tiến bộ phụ nữ vào quá trình thực hiện các chỉ tiêu, mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội các ngành, các cấp.
- Kiện toàn hệ thống quản lý nhà nước về Bình đẳng giới, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về Bình đẳng giới và cộng tác viên thực hiện công tác Bình đẳng giới và Vì sự tiến bộ phụ nữ.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu, tiêu chí, hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá về bình đẳng giới; xây dựng chiến lược Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 và Chương trình quốc gia Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015.
10. Giảm phát sinh mới tệ nạn xã hội; nâng cao chất lượng cai nghiện phục hồi, quản lý sau cai
- Điều chỉnh, bổ sung chính sách, cơ chế cai nghiện và quản lý sau cai tại gia đình, cộng đồng; nâng cao hiệu quả quản lý, chữa trị, giáo dục và phục hồi tại các cơ sở Giáo dục – Lao động Xã hội. Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển các mô hình, các hình thức chữa trị, phục hồi gắn với dạy nghề, tạo việc làm, giảm tái nghiện, tái phạm và hòa nhập cộng động hiệu quả.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát, truy quét, xử lý vi phạm và lập hồ sơ đưa đi giáo dục các đối tượng hành nghề mại dâm và các nhà hàng, cơ sở tổ chức hoạt động mại dâm; tăng cường vai trò giám sát của nhân dân đối với các cơ sở kinh doanh, dịch vụ nhạy cảm.
- Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ quản lý để tăng 20% quy mô, nâng cao hiệu quả quản lý, chữa trị, giáo dục, cai nghiện phục hồi tại các cơ sở Giáo dục - Lao động Xã hội theo Luật Phòng, chống ma túy.
- Nhân rộng c¸c mô hình xã, phường phòng ngừa, ngăn chặn phát sinh mới tệ nạn ma túy, mại dâm và cai nghiện, dạy nghề, tạo việc làm, hòa nhập cộng đồng cho người nghiện ma túy, người mại dâm hiệu quả; tập trung vào các giải pháp bảo đảm việc làm, thu nhập, tái hòa nhập cộng đồng bền vững cho các đối tượng sau cai.
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả cuộc vận động xây dựng xã, phường lành mạnh không có tệ nạn xã hội; chuyển hóa những xã, phường trọng điểm về tệ nạn ma túy, mại dâm; huy động tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh các cấp, nhà trường… thực hiện đồng bộ các giải pháp về tuyên truyền, giáo dục, vận động thanh niên tránh xa ma túy, mại dâm; phát động phong trào toàn dân phát hiện người nghiện, vận động đối tượng nghiện và gia đình người nghiện tự khai báo và đăng ký thực hiện hình thức cai nghiện; xây dựng lực lượng tình nguyện viên ở các xã, phường. Đưa công tác cai nghiện, phục hồi; phòng, chống mại dâm vào chỉ tiêu đánh giá hoàn thành nhiệm vụ đối với cấp Ủy, Chính quyền các cấp.
11. Cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng
- Thực hiện đồng bộ, bảo đảm tiến độ giai đoạn 2 Đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước của ngành; cải cách các thủ tục hành chính nhằm đảm bảo tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch trong giải quyết các thủ tục hành chính; giảm phiền hà và loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo đối với các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp, người dân.
- Tiếp tục kiện toàn bộ máy làm công tác lao động – thương binh và xã hội cấp tỉnh, huyện; cấp xã, phường, thị trấn; tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ và sắp xếp hợp lý cán bộ, đặc biệt là cán bộ địa phương, cơ sở; tăng cường năng lực làm việc và hiệu suất công tác thông qua ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý.
- Xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra tập trung vào những lĩnh vực nhạy cảm, dễ nảy sinh tiêu cực; các dự án đầu tư, viện trợ; các đơn vị chi tiêu nhiều ngân sách, sử dụng tài sản công, đất công; xuất khẩu lao động, bảo hiểm xã hội; xác nhận và hưởng chính sách người có công; vay vốn tạo việc làm, giảm nghèo; chấp hành pháp luật lao động trong các doanh nghiệp… Thực hiện toàn diện phiếu kiểm tra thực hiện pháp luật lao động đối với các doanh nghiệp; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các doanh nghiệp không báo cáo tự kiểm tra hoặc có nhiều vi phạm pháp luật lao động. Củng cố, tăng cường và chuyên nghiệp hóa lực lượng thanh tra viên lao động ở các cấp, nhất là cấp cơ sở.
- Tiếp tục thực hiện chương trình hành động thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí; Luật Phòng, chống tham nhũng.
- Thực hiện lịch tiếp công dân hàng tháng của Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo Sở; các Vụ, Ban, đơn vị giải quyết theo thẩm quyền kịp thời đơn, thư khiếu nại, tố cáo cho đối tượng; giải quyết dứt điểm những vụ khiếu kiện phức tạp, kéo dài.
III - TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Các cấp thực hiện việc giao chỉ tiêu kế hoạch và dự toán ngân sách nhà nước năm 2010 đúng tiến độ quy định để chủ động triển khai thực hiện ngay từ đầu năm; sử dụng hiệu quả các nguồn kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch của ngành.
2. Các cơ quan, đơn vị cụ thể hóa chỉ đạo của Chính phủ, Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố bằng các chương trình hành động chi tiết, phân công rõ đến từng việc, từng cá nhân thực hiện; quy định cụ thể thời gian, tiến độ thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao.
3. Đổi mới chỉ đạo, điều hành các cấp trong tổ chức thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ, đảm bảo sâu sát, cụ thể và hiệu quả; đề cao trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là đạo đức, tinh thần tận tụy với công việc; đổi mới lề lối làm việc trong từng cơ quan, đơn vị, chấp hành kỷ cương, kỷ luật, chỉ đạo của cấp trên.
4. Tổ chức thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn pháp luật về lao động, người có công và xã hội vào chương trình, kế hoạch tuyên truyền của các cấp chính quyền, các cơ quan, đoàn thể, doanh nghiệp, nhất là cấp xã/phường. Tập trung vào pháp luật, các chế độ, chính sách, quy trình, thủ tục mới ban hành; phổ biến, hướng dẫn, nhân rộng những mô hình hiệu quả, bền vững; những kinh nghiệm tốt trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ của ngành.
5. Thực hiện tốt cơ chế phân cấp, giao quyền để tạo chủ động cho địa phương, nhất là các Chương trình Mục tiêu Quốc gia. Các đơn vị: Tổng cục Dạy nghề, Cục Việc làm, Cục Bảo trợ Xã hội và các đơn vị quản lý kinh phí Chương trình Mục tiêu Quốc gia, Chương trình Quốc gia…phải quán triệt phân cấp, trao quyền và phối hợp chặt chẽ với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội trên địa bàn để đảm bảo sự kiểm tra, giám sát, đánh giá chặt chẽ kịp thời của các đơn vị trong ngành.
6. Phối hợp chặt chẽ với Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể, các Ban chỉ đạo vùng huy động sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về lao động, người có công và xã hội.
7. Theo dõi sát tình hình thực hiện kế hoạch, kịp thời nắm chắc những diễn biến bất lợi để đề xuất các biện pháp xử lý. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, tổ chức Hội nghị giao ban các vùng theo chuyên đề, đề xuất các giải pháp cụ thể để đảm bảo thực hiện thắng lợi, toàn diện nhiệm vụ kế hoạch năm 2010 về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội.
8. Xây dựng Kế hoạch 5 năm (2011-2015); Chiến lược phát triển ngành giai đoạn 2011-2010 đảm bảo nội dung và tiến độ yêu cầu; đánh giá tình hình thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình quốc gia giai đoạn 2006-2010, xây dựng các Chương trình giai đoạn 2011-2015
9. Phát động và đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong toàn ngành hướng tới những ngày kỷ niệm trọng đại của đất nước, Đại hội thi đua yêu nước ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, phấn đấu hoàn thành vượt mức chỉ tiêu, nhiệm vụ trong từng cơ quan, đơn vị và toàn ngành./.
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI