b¸o c¸o chuyªn ®Ò
VIỆC THỰC HIỆN LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ KIỆN TOÀN,
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA
BAN VÌ SỰ TIẾN BỘ CỦA PHỤ NỮ CÁC CẤP
Luật Bình đẳng giới được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ X thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2007. Tại Nghị định số 186/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007, Chính phủ giao Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Sau hơn hai năm triển khai thực hiện Luật Bình đẳng giới, chúng ta đã thu được những kết quả bước đầu, song vẫn còn nhiều tồn tại, khó khăn. Trên cơ sở tổng hợp tình hình triển khai thực hiện của các Bộ, ngành, các tỉnh, thành phố và các cơ quan chức năng, Vụ Bình đẳng giới xin báo cáo tóm tắt một số nội dung chính về tình hình và kết quả triển khai như sau:
1. Công tác chỉ đạo triển khai và xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện
Sau khi Luật Bình đẳng giới được ban hành, Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành nghiên cứu xây dựng các văn bản hướng dẫn, thực hiện các quy định của Luật; đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn triển khai thực hiện Luật.
Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03/5/2007 về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới và 03 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Bình đẳng giới, gồm: Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04/06/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới về trách nhiệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới và phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới; Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và Nghị định số 55/2009/NĐ- CP ngày 10/6/2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới. Đồng thời, ngày 01 tháng 12 năm 2008, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết số 57/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết số 11NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện, cụ thể như: Thông tư liên tịch số 10/2008/TTLT-BLĐTBXH-BNV ngày 10 tháng 07 năm 2008 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và nhiệm vụ quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp xã về lao động, người có công và xã hội trong đó có lĩnh vực bình đẳng giới; văn bản số 2443/LĐTBXH-BĐG ngày 14 tháng 07 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định số 70/2008/NĐ-CP; Thông tư số 191/2009/TT-BTC ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí hoạt động bình đẳng giới và hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ.
Nhiều Bộ, ngành, đoàn thể đã chỉ đạo các cơ quan nghiên cứu, các cơ quan truyền thông phối hợp với các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ trong nước và quốc tế đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ban hành chính sách theo quy định của pháp luật; nghiên cứu, triển khai các đề tài khoa học về giới và bình đẳng giới; đẩy mạnh các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức về giới và bình đẳng giới nói chung, công tác nữ và các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ nói riêng.
Đã có nhiều địa phương như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, các tỉnh Hà Giang, Hà Nam, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận, Bình Định, Lâm Đồng, Bình Dương, An Giang, Cần Thơ v.v…. đã có văn bản chỉ đạo, đôn đốc các Sở, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch thực hiện các quy định của Luật Bình đẳng giới.
2. Một số kết quả thực hiện Luật Bình đẳng giới:
a). Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bình đẳng giới luôn được ưu tiên nhằm thúc đẩy, nâng cao nhận thức về giới và bình đẳng giới:
- Ngay sau khi Luật Bình đẳng giới ra đời, các Bộ ngành, địa phương đều triển khai hoạt động tuyên truyền, phổ biến nội dung Luật tới cán bộ và người dân. Hình thức tuyên truyền được các Bộ ngành, địa phương thực hiện phổ biến nhất là tổ chức lớp tập huấn, tọa đàm hoặc Hội nghị triển khai. Nhiều địa phương như: Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hà Nam, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận, Bình Định, Lâm Đồng, Bình Dương, An Giang, Cần Thơ v.v…. đã có văn bản chỉ đạo, đôn đốc các Sở, ngành, cơ quan chức năng của địa phương tổ chức các lớp tập huấn, truyền thông về thực hiện thực hiện các quy định của Luật Bình đẳng giới.
- Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về giới và bình đẳng giới đã được các cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế rất quan tâm. Luật Bình đẳng giới và các văn bản hướng dẫn Luật đã được nhiều cơ quan, đơn vị in và phát hành rộng rãi trong công chúng. Nhiều lớp tập huấn, tọa đàm, Hội thảo về Luật Bình đẳng giới đã được tổ chức, thu hút nhiều cán bộ và nhân dân tham gia. Đài tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và các cơ quan thông tin đại chúng khác cũng đã mở các chuyên mục tuyên truyền về bình đẳng giới. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Quảng Ninh còn phối hợp trong Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh tổ chức cuộc thi tìm hiểu về Luật Bình đẳng giới,… Một số tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế đã phối hợp với Hội phụ nữ, Hội Nông dân, Hội cựu chiến binh ở một số địa phương tổ chức các câu lạc bộ tuyên truyền và thực hiện một số mô hình về bình đẳng giới. Với những cố gắng đó đã góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân dân về bình đẳng giới, dần loại bỏ tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”; từng bước thực hiện bình đẳng giữa nam và nữ trong lao động, sản xuất và các hoạt động xã hội khác.
- Năm 2009, Vụ Bình đẳng giới đã phối hợp với các cơ quan, ban ngành và các tổ chức quốc tế tổ chức hơn 10 hội thảo, tập huấn với nhiều nội dung, hình thức phong phú, trong đó chú trọng trang bị kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Các Hội thảo, Tập huấn đã hướng vào các vùng nghèo, còn nhiều khó khăn, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số như Miền trung, Tây Nguyên, Tây Bắc, vùng Đồng bằng sông Cửu long với các chủ đề phù hợp như “Bình đẳng giới trong gia đình”, “Bình đẳng giới trong lao động”,… Tổ chức tập huấn về “Lồng ghép giới trong Lao động - Việc làm” cho cán bộ của Vụ Bình đẳng giới và một số đơn vị chức năng liên quan thuộc Bộ và các Bộ ngành khác có liên quan; tổ chức Hội thảo tập huấn về Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long; tập huấn về kiến thức pháp luật bình đẳng giới và kỹ năng công tác cho thành viên, thư ký Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các Bộ ngành TW... Vụ Bình đẳng giới, Văn phòng Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam phối hơp với Trung tâm đào tạo cán bộ của Bộ bước đầu đã biên soạn tài liệu tập huấn nghiệp vụ công tác bình đẳng giới cho lãnh đạo và cán bộ làm công tác bình đẳng giới thuộc ngành lao động - thương binh và xã hội từ cấp tỉnh tới cấp xã; bố trí báo cáo viên giúp tổ chức tập huấn, cung cấp thông tin và hướng dẫn về công tác bình đẳng giới cho nhiều Bộ ngành, địa phương…
- Ngoài ra, việc thông tin và chia sẻ, tiếp thu những ý kiến đóng góp cho hoạt động bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ được duy trì thông qua các hoạt động như: họp Mạng lưới cán bộ tham mưu, tư vấn về giới hàng quý, xuất bản 04 số Bản tin Phụ nữ và Tiến bộ tiếng Việt và 01 số tiếng Anh; tái bản có bổ sung, sửa đổi cuốn “Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách” (được xuất bản năm 2004) phù hợp với tinh thần của Luật Bình đẳng giới; duy trì hoạt động của Website của UBQG. In hàng vạn Tờ rơi tuyên truyền về pháp luật bình đẳng giới, Nghị quyết số 57/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết số 11NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Sổ tay công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới, Hỏi đáp về Luật Bình đẳng giới…
b. Xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ hoạt động về bình đẳng giới được quan tâm
- Thực hiện Nghị định số 186/2007/NĐ-CP ngày 25/12/2007 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ LĐTBXH, Vụ Bình đẳng giới đã được thành lập để giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Vụ Bình đẳng giới hiện có 13 cán bộ được phân công đảm nhiệm 2 nhiệm vụ chính: i) Giúp Bộ trưởng triển khai các nhiệm vụ quản lý nhà nước về bình đẳng giới; ii) Giúp Bộ trưởng, Chủ tịch UBQG triển khai và đôn đốc triển khai các nhiệm vụ, hoạt động của UBQG.
- Trong năm 2009, Vụ Bình đẳng giới đã tiến hành khảo sát đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới tại các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội. Theo báo cáo của các Sở:
+ Về tổ chức bộ máy: Cả nước hiện có 7 Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã thành lập phòng Bình đẳng giới (trong đó phòng bình đẳng giới riêng biệt được thành lập ở 3 địa phương là TP. Hồ Chí Minh, Sóc Trăng và Bình Dương; phòng thành lập ghép với lĩnh vực chuyên môn khác gồm: phòng BVCSTE&BĐG ở 3 tỉnh, thành phố Phú Yên, Cần Thơ, Hải Phòng; và Phòng Bảo hiểm và bình đẳng giới ở Hà Nam); 51 Sở đặt bộ phận làm công tác Bình đẳng giới trong Văn phòng Sở ngoài ra một số Sở giao các phòng lao động tiền lương, phòng tổ chức cán bộ kiêm công tác bình đẳng giới.
+ Về số lượng cán bộ: Các Sở Lao động thương binh và Xã hội trong cả nước hiện có 98 cán bộ làm công tác bình đẳng giới. Tính trung bình mỗi sở có 1,5 cán bộ làm công tác bình đẳng giới (Tuy nhiên phần đông vẫn là kiêm nhiệm). Đặc biệt theo báo cáo của Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Bình đẳng giới sẽ có biên chế là 7 cán bộ; cấp Quận, huyện có 2 biên chế chuyên trách công tác bình đẳng giới và cấp xã sẽ có ½ định biên chuyên trách công tác bình đẳng giới.
+ Về cơ cấu cán bộ: trong tổng số 98 cán bộ làm công tác bình đẳng giới ở các Sở có 57 nam (chiếm 58%) và 41 nữ; Số cán bộ có độ tuổi dưới 30 chiếm 19,3%, phần lớn cán bộ phụ trách đều trong độ tuổi từ 30-50 (chiếm 57,1%) chỉ có 16 cán bộ trên 50 tuổi (chiếm 16,3%). Về trình độ học vấn đại đa số cán bộ có trình độ đại học (chiếm 95,9%), chỉ có 4 cán bộ có trình độ trung cấp và cao đẳng. Phần lớn các cán bộ đều có kinh nghiệm lâu năm trong ngành, có 53 cán bộ có từ 10 năm kinh nghiệm trở lên, chiếm 54%, 13 người có từ 5 đến 10 năm kinh nghiệm, chỉ có 17 người có dưới 2 năm kinh nghiệm, chiếm khoảng 15%.
- Để nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác bình đẳng giới từ TW đến địa phương, Vụ Bình đẳng giới đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, tọa đàm về bình đẳng giới, trong đó có các hoạt động như đã nêu trên.
c. Công tác thông tin, báo cáo về bình đẳng giới đã được chú trọng
Năm 2009 là năm đầu tiên Chính phủ thực hiện quy định về chế độ báo cáo hàng năm trước Quốc hội về tình hình thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới, Vụ Bình đẳng giới đã tham mưu cho Bộ xây dựng đề cương hướng dẫn và đôn đốc các Bộ, ngành, các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội báo cáo tình hình triển khai thực hiện Luật Bình đẳng giới của đơn vị, địa phương. Có 11 Bộ, ngành và 25 tỉnh gửi báo cáo về Bộ (qua Vụ Bình đẳng giới) đúng thời gian. Trên cơ sở đó, Vụ đã tham mưu với Bộ soạn thảo và trình Chính phủ dự thảo Báo cáo. Ngày 08 tháng 5 năm 2009, Chính phủ có Báo cáo số 63/BC-CP về thực hiện mục tiêu bình đẳng giới theo quy định của Luật Bình đẳng giới gửi các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XII. Đây là báo cáo đầu tiên được thực hiện trong bối cảnh nước ta chưa xây dựng được mục tiêu quốc gia riêng về bình đẳng giới theo quy định của Luật, vì vậy, báo cáo tập trung vào việc kiểm điểm tình hình thực hiện Luật Bình đẳng giới, đặc biệt là tình hình thực hiện bình đẳng giới trong 8 lĩnh vực mà Luật đã đề cập tới, gồm: chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao và gia đình.
d. Hợp tác quốc tế về bình đẳng giới được duy trì và phát triển
- Tiếp tục duy trì và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực và khu vực ASEAN, APEC, Liên hợp quốc, hợp tác song phương….Năm 2008, lần đầu tiên Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị thường niên của Ủy ban phụ nữ ASEAN và hội thảo bên lề về bạo lực đối với phụ nữ. Năm 2009, đã tổ chức và tham dự 18 đoàn công tác ra nước ngoài, tham gia hoạt động hợp tác trên ba diễn đàn chính: Liên hợp quốc, APEC và ASEAN và hợp tác song phương với Na Uy, Thụy Sỹ, Phần Lan, Anh,…..
- Chính phủ phê duyệt Dự án “Chương trình hợp tác chung giữa Liên hợp quốc và Chính phủ Việt Nam về Bình đẳng giới”. Đến nay, nhiều hoạt động quan trọng trong Chương trình dự án đã được triển khai, như: rà soát các tài liệu trong lĩnh vực Giáo dục, Lao động – Xã hội để sửa đổi, bổ sung theo quy định của Luật Bình đẳng giới; xây dựng tài liệu đào tạo cán bộ bình đẳng giới; hỗ trợ xây dựng Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới và Chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.…
- Duy trì và cải tiến nội dung hoạt động của nhóm Hành động về giới (GAP); phối hợp với Đại sứ quán Vương quốc Na Uy tại Hà Nội, Quỹ phát triển phụ nữ (UNIFEM) tại Hà Nội và nhiều tổ chức quốc tế khác xây dựng đề xuất, triển khai nhiều hoạt động về giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ.
Theo sự phân công của lãnh đạo Bộ, Vụ Bình đẳng giới đã tích cực tham gia xây dựng nhiều báo cáo có liên quan tới hợp tác quốc tế về bình đẳng giới như: Báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Văn hóa và Xã hội; Báo cáo kiểm điểm định kỳ của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (Bộ Ngoại giao chủ trì); Báo cáo về vai trò của phụ nữ trong việc tái thiết và xây dựng đất nước sau chiến tranh để chuẩn bị cho buổi thảo luận của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc về chủ đề “Phụ nữ, hòa bình và an ninh”; Báo cáo về việc thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (mục tiêu 3 về Bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ); Báo cáo về Nghị định thư bổ sung của công ước CEDAW...
3. Kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam và Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp
Để thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ, bộ máy quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đã được hình thành từ năm 1985 với tên gọi ban đầu là Ủy ban quốc gia về Thập kỷ Phụ nữ của Việt Nam, sau đó đổi thành Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam (UBQG). Sau hơn 20 năm thành lập và hoạt động, UBQG đã xây dựng được hệ thống các Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ tõ trung ¬ng ®Õn x·, phêng; nhiều lần được kiện toàn víi sù tham gia cña nhiÒu ®ång chÝ l·nh ®¹o chñ chèt ë tÊt c¶ c¸c cÊp. Theo báo cáo của UBQG, ®Õn nay ®· cã m¹ng líi Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ t¹i 39 Bé, ngµnh vµ tất cả tØnh, thµnh phố. Ban v× sù tiÕn bé cña phô n÷ còng ®· ®îc thµnh lËp ë 83,8% ®¬n vÞ trùc thuéc Bé ngµnh, 98,7% huyÖn, thÞ vµ 84,2% x·, phêng. C¸c ®¬n vÞ nµy ®Òu ®· x©y dùng vµ triÓn khai thùc hiÖn tèt KÕ ho¹ch hµnh ®éng v× sù tiÕn bé cña phô n÷ ë Bé ngµnh vµ ®Þa ph¬ng m×nh. §Æc biÖt, Ban v× sù tiÕn bé cña phô n÷ ®· ®îc thµnh lËp trong c¸c doanh nghiÖp. §©y lµ c¬ së tèt ®Ó kiÓm tra viÖc thùc hiÖn c¸c chÝnh s¸ch ®èi víi ngêi lao ®éng, trong ®ã cã lao ®éng n÷.
Sau khi có Luật Bình đẳng giới, cùng với việc quy định thống nhất công tác quản lý Nhà nước về bình đẳng giới do ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đảm nhận, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 114/2008/QĐ-TTg ngày 22 tháng 8 năm 2008 về kiện toàn Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam và giao Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội làm Chủ tịch Ủy ban, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực của Ủy ban để ®¶m b¶o sù g¾n kÕt, phèi hîp chÆt chÏ gi÷a c¬ quan qu¶n lý Nhµ níc víi tæ chøc liªn ngµnh, t¹o ®iÒu kiÖn thuËn lîi cho Ủy ban triÓn khai c¸c nhiÖm vô ®îc giao. Văn phòng Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam được thành lập trên cơ sở bổ sung thêm nhiệm vụ và biên chế cho Vụ Bình đẳng giới.
Qua hơn một năm sau kiện toàn, các hoạt động của UBQG được đánh giá là đã thực chất hơn, đi vào chiều sâu hơn. Ngay sau khi đảm nhận nhiệm vụ thường trực của UBQG, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các cơ quan thành viên của UBQG tổ chức thành công Hội nghị thường niên của Ủy ban phụ nữ ASEAN (lần đầu tiên Việt Nam đăng cai tổ chức) vào tháng 10 năm 2008; phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức sơ kết giữa kỳ Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ việt Nam giai đoạn 2006 – 2010, cũng như nhiều Hội nghị, Hội thảo chuyên đề khác. Với vai trò là cơ quan thường trực của UBQG, Bộ đã phối hợp cùng các cơ quan thành viên khác của Ủy ban nghiên cứu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ và các cấp có thẩm quyền về một số chính sách đối với cán bộ nữ như chế độ nghỉ hưu đối với cán bộ lãnh đạo nữ, chế độ khen thưởng đối với lao động nữ khi nghỉ chế độ thai sản, về việc thành lập Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các cơ quan, tổ chức Chính trị - xã hội, ...Một điểm mới so với những năm trước là, các đồng chí thành viên UBQG đã tích cực, chủ động hơn trong triển khai công tác và thực hiện báo cáo bằng văn bản về UBQG theo đúng quy chế hoạt động, góp phần thúc đẩy công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ trên các lĩnh vực. Các hoạt động hợp tác quốc tế cũng được duy trì và phát huy, được các tổ chức quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.
Nhìn vào kết quả hoạt động của UBQG trong hơn một năm qua cho thấy việc kiện toàn UBQG như hiện nay là phù hợp. Mô hình mới này đã tạo nên sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý Nhà nước về bình đẳng giới với tổ chức phối hợp liên ngành vì sự tiến bộ của phụ nữ, qua đó, tạo nên sức mạnh tổng hợp của hai cơ quan trong triển khai nhiệm vụ.
Sau khi Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 114/2008/QĐ-TTg, tới nay đã có một số địa phương như Bình Dương, Cần Thơ, Hà Tĩnh, Nghệ An, Hà Nam, Quảng Ninh,.... đã có Quyết định kiện toàn Ủy ban, theo hướng cơ quan thường trực là Sở Lao động – Thương binh và Xã hội. Sau kiện toàn, hoạt động của các Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ được duy trì và phát huy, giảm sự chồng chéo trong các hoạt động tập huấn, truyền thông; nguồn lực được tập trung hơn nên điều kiện làm việc của bộ phận giúp việc cho Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ cũng được tăng cường. Do không bị coi là công việc của hội phụ nữ hay của Ban nữ công nên các hoạt động về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ được triển khai bài bản và tạo sự đồng thuận tốt hơn.. Một số địa phương như Hà Tĩnh, Nghệ An, ... cán bộ chuyên trách cho Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ cũng được tạo điều kiện chuyển về Sở lao động - Thương binh và Xã hội nên hoạt động hoàn toàn không bị gián đoạn mà còn được phát triển tốt hơn. Nhiều địa phương băn khoăn nếu cơ quan thường trực đặt ở Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc một cơ quan khác thì sẽ dẫn đến sự chồng chéo trong các hoạt động và sự quản lý nhà nước về công tác vì sự tiến bộ phụ nữ. Do vậy, tại kỳ họp thứ nhất của UBQG, các thành viên cũng đã thảo luận và nhất trí đề nghị nên chuyển cơ quan thường trực Ban vì sự tiến bộ phụ nữ về ngành Lao động - Thương binh và Xã hội để đảm bảo sự thống nhất trong chỉ đạo, điều hành và sự g¾n kÕt, phèi hîp chÆt chÏ gi÷a c¬ quan qu¶n lý Nhµ níc víi tæ chøc liªn ngµnh, t¹o ®iÒu kiÖn thuËn lîi cho Ban VSTBPN hoạt động có hiệu quả hơn. Văn phòng Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đã nghiên cứu, xây dựng Đề án trình Bộ để trình Thủ tướng Chính phủ kiện toàn, thành lập Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ ở Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định tại Quyết định số 1855/QDD-TTg ngày 11 tháng 11 năm 2009.
4. Những khó khăn, vướng mắc
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc tổ chức triển khai thực hiện công tác bình đẳng giới trong hai năm qua còn gặp nhiều khó khăn:
Về nhận thức: Do chịu ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo, tư tưởng mang tính định kiến về giới còn tồn tại khá phổ biến trong nhân dân, kể cả trong một bộ phận cán bộ, công chức. Đó là định kiến trọng nam hơn nữ trong xã hội, cụ thể là hầu hết các gia đình đều thích sinh con trai hơn con gái; coi công việc gia đình, chăm sóc con, người già, người ốm là công việc của phụ nữ. Phụ nữ ít có thời gian nghỉ ngơi, học tập nâng cao trình độ hơn nam giới, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Việc bồi dưỡng, phát triển cán bộ nữ ở nơi này, nơi kia vẫn còn bị hạn chế; một số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động nữ vì ngại thực hiện chế độ thai sản và những lý do khác. Trong lao động việc làm, mặc dù chênh lệch về tỷ lệ không nhiều, nhưng thu nhập thực tế của nam giới vẫn cao hơn ở nữ giới. Trong chỉ đạo, điều hành cá biệt có Sở còn chưa quan tâm đến lĩnh vực công tác hết sức mới mẻ này của ngành, chưa bố trí cán bộ và tạo điều kiện cho hoạt động bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ.
Việc xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn chậm: sau khi Luật được ban hành, cơ quan chủ trì triển khai là Ủy ban dân số, Gia đình và Trẻ em (cũ) giải thể nên việc xây dựng ban hành các văn bản hướng dẫn Luật bị chậm. Khi xây dựng các văn bản hướng dẫn Luật, nhất là hướng dẫn về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới giữa các Bộ, ngành, địa phương còn có rất nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau về phạm vi điều chỉnh, cũng như nội dung hướng dẫn, do vậy không thể đảm bảo tiến độ thời gian theo yêu cầu dẫn đến việc hướng dẫn, triển khai các nhiệm vụ cụ thể gặp rất nhiều khó khăn. Đến này 10 tháng 6 năm 2009, Chính phủ mới ban hành đủ 3 Nghị định hướng dẫn thi hành luật; việc ban hành Nghị định hướng dẫn chậm, nên đến ngày 01 tháng 12 năm 2009, Nghị quyết về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 11 NQ/TW của Bộ Chính trị mới được ban hành (Bộ đã trình từ tháng 8 năm 2008).
Thiếu đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới: do mới được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về bình đẳng giới nên còn rất thiếu cán bộ có kiến thức về giới, bình đẳng giới và kỹ năng lồng ghép giới, đặc biệt ở địa phương, cơ sở. Với việc nhiệm vụ của ngành ngày càng được mở rộng, trong khi biên chế không được giao bổ sung, nên nhiều địa phương rất khó khăn khi triển khai công việc.
Thiếu kinh phí cho các hoạt động bình đẳng giới: Việc xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn chậm làm cho các Bộ, ngành, địa phương lúng túng trong việc xác định chương trình kế hoạch hoạt động cụ thể của mình, do vậy dẫn đến tình trạng chưa lập được dự toán kinh phí cần thiết bố trí cho các hoạt động hoặc khi đã lập được dự toán kinh phí song việc phê duyệt lại gặp khó khăn do không phải là công việc được “ưu tiên”.
5. Định hướng triển khai trong năm 2010:
Năm 2010 là năm có ý nghĩa quan trọng, tạo tiền đề cho việc triển khai các hoạt động của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm và Kế hoạch 5 năm 2011 -2015; công tác bình đẳng giới sẽ tập trung ưu tiên triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
a) Đối với Bộ:
- Tiếp tục thể chế hóa các quy định của luật Bình đẳng giới và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật, triển khai xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới. Đặc biệt, trong năm 2010, tập trung xây dựng và trình Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 và Chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015;
- Hướng dẫn, đôn đốc các địa phương kiện toàn Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ ở UBND cấp tỉnh, cấp huyện theo Quyết định số 1185/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Chỉ thị 27/2004/CT-TTg ngày 15 tháng 7 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ; nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ, Ban Bí thư Đề án kiện toàn, thành lập Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các Bộ, ngành và các Tổ chức chính trị - xã hội.
- Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương đánh giá, tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ giai đoạn 2001 – 2010 và xây dựng Báo cáo về tình hình thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới theo quy định của Luật Bình đẳng giới và yêu cầu của Quốc hội.
- Triển khai, đôn đốc và theo dõi việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 01 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới nhằm tạo ra những chuyển biến sâu sắc trong nhận thức về bình đẳng giới đối với toàn xã hội. Nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2010 là xây dựng và triển khai Đề án đào tạo cán bộ làm công tác bình đẳng giới; nâng cao nhận thức cho các cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, đảng viên, xóa bỏ tư tưởng trọng nam hơn nữ và các hành vi phân biệt đối xử về giới.
- Nghiên cứu, xây dựng mô hình thí điểm triển khai thực hiện bình đẳng giới và sự phát triển của phụ nữ ở một số địa phương để tiến hành nhân rộng vào năm 2011.
- Xây dựng bộ chỉ số đánh giá bình đẳng giới trong lĩnh vực Lao động – xã hội theo quy định của Luật Bình đẳng giới và bộ chỉ số đánh giá kết quả hoạt động của các Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ. Tổ chức kiểm tra, giám sát tình hình triển khai thực hiện pháp luật về Bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các Bộ, ngành, địa phương.
- Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm học tập, chia sẻ kinh nghiệm về Luật Bình đẳng giới và vận động nguồn lực hỗ trợ thực hiện các chính sách, pháp luật về bình đẳng giới. Tiếp tục triển khai có hiệu quả Dự án Ô về Bình đẳng giới và các dự án, hoạt động hợp tác quốc tế khác.
- Tổ chức tổng kết Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010; sơ kết, đánh giá tình hình 15 năm thực hiện Cương lĩnh hành động Bắc Kinh.
- Nghiên cứu, thí điểm việc hỗ trợ kỹ năng cho các cán bộ nữ tiềm năng để tham gia ứng cử Hội đồng nhân dân các cấp và Quốc hội nhiệm kỳ 2011 - 2015.
- Tổ chức Hội nghị biểu dương phụ nữ tiêu biểu toàn quốc.
b) Đối với các địa phương:
- Tiếp tục triển khai thực hiện Luật Bình đẳng giới và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đặc biệt, cần tập trung nghiên cứu lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào các Kế hoạch phát triển triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Tiếp tục kiện toàn, ổn định và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ ở địa phương.
- Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới nhằm tạo ra những chuyển biến sâu sắc trong nhận thức về bình đẳng giới đối với toàn xã hội.
- Rà soát các chính sách, chương trình, dự án của địa phương để phát hiện, đề xuất sửa đổi hoặc sửa đổi, bổ sung chính sách nhằm tăng tỷ lệ nữ tham gia trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình; đặc biệt, trong năm 2010, cần nghiên cứu, đề xuất áp dụng các biện pháp tích cực, phù hợp với đặc thù của địa phương, đơn vị nhằm tăng tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy Đảng ở địa phương, đề xuất giải pháp nhằm tăng tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2015.
- Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo kịp thời theo yêu cầu của Bộ và các cơ quan chức năng.
- Triển khai Quyết định số 1855/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập, kiện toàn Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ ở UBND cấp tỉnh, cấp huyện đảm bảo các hoạt động của Ban được liên tục; các hoạt động cần đi vào chiều sâu và thực chất.
- Tổ chức đánh giá 5 năm thực hiện KHHĐ vì sự tiến bộ của phụ nữ giai đoạn 2006-2010 của địa phương.
- Bình chọn, giới thiệu các đại biểu dự Hội nghị biểu dương phụ nữ tiêu biểu toàn quốc theo hướng dẫn của Ban tổ chức. Đối với các địa phương có điều kiện nên Tổ chức Hội nghị biểu dương phụ nữ tiêu biểu trên các lĩnh vực từ cấp cơ sở.
VỤ BÌNH ĐẲNG GIỚI