Báo cáo tổng hợp tình hình kiểm tra hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ năm 2005
Uỷ ban quốc gia Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
------***------ -------***-------
Số: 04 /UBQG- BCKT Hà Nội, ngày 18 tháng 1năm 2006
Báo cáo tổng hợp tình hình kiểm tra
hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ năm 2005
------------------------
Căn cứ chức năng kiểm tra việc thực hiện luật pháp, chính sách đối với phụ nữ và hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ, trên cơ sở chương trình công tác năm 2005, UBQG đã ra Kế hoạch kiểm tra 24 đơn vị, gồm 10 bộ ngành và 14 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Tình hình triển khai thực hiện như sau:
1. Công tác chuẩn bị và tổ chức các đoàn đi kiểm tra:
Ngay trong quý I năm 2005, UBQG đã khẩn trương xây dựng kế hoạch kiểm tra, giúp thành viên cũng như các đơn vị được kiểm tra chủ động thời gian chuẩn bị tốt hơn. Nội dung kiểm tra tập trung vào việc đôn đốc các bộ ngành, địa phương hoàn thành việc thực hiện KHHĐ để chuẩn bị tổng kết trên phạm vi toàn quốc, trong đó đặc biệt quan tâm tới các biện pháp nhằm đảm bảo tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ Đảng không dưới 15% theo Chỉ thị 46-CT/TW ngày 6/12/2004 của Bộ Chính trị. Bên cạnh đó, công tác lồng ghép vấn đề giới vào kế hoạch phát triển của bộ ngành và địa phương được chú trọng bởi đây là thời điểm xây dựng kế hoạch của các ngành, các cấp cho giai đoạn 2006-2010. Tình hình kiện toàn tổ chức và hoạt động của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp theo Chỉ thị 27/TTg của Thủ tướng Chính phủ cũng là một trong những nội dung được nêu trong kế hoạch kiểm tra.
Cũng như những năm trước, để đảm bảo việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, Văn phòng đã gửi mẫu Báo cáo tình hình hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ tới 24 đơn vị được kiểm tra. Thời hạn hoàn thành báo cáo trước ngày 30/4/2005. Tuy nhiên, đến hết tháng 5/2005, mới có 8/24 đơn vị nộp báo cáo. Có một số đơn vị như: tỉnh Bình Thuận, thành phố Hải Phòng đến sát ngày kiểm tra mới có báo cáo gửi về UBQG, tỉnh Gia Lai đến ngày làm việc mới có dự thảo báo cáo. Việc chậm nộp báo cáo vẫn là một trong những tồn tại chưa được khắc phục.
Công tác tập hợp thông tin, tài liệu phục vụ cho các đoàn kiểm tra đã được Văn phòng UBQG chuẩn bị đầy đủ và sớm gửi tới các thành viên đoàn kiểm tra. Nhiệm vụ này đã được Văn phòng duy trì thực hiện khá tốt trong nhiều năm nay và được các đoàn kiểm tra đánh giá cao.
Đến nay, cả 12 đoàn đã đi kiểm tra, đạt 100% số đoàn được phân công. Số lượng đơn vị được kiểm tra là 20/24 đơn vị, trong đó có 8 bộ ngành và 12 tỉnh, thành phố, đạt 83% kế hoạch. Ngoài ra, do yêu cầu đột xuất, đồng chí Hà Thị Khiết- Chủ tịch UBQG đã tiến hành kiểm tra bổ sung 3 tỉnh là Lai Châu, Sơn La và Lào Cai, nâng tổng số đơn vị đã kiểm tra lên 23 đơn vị. Để đạt được kết quả này, trước hết đó là sự tham gia nhiệt tình và trách nhiệm của các đồng chí thành viên UBQG. Đồng chí Bùi Đặng Dũng mặc dù mới được phân công là thành viên nhưng đã khẩn trương tiến hành kiểm tra với kết quả tốt. Đoàn kiểm tra do đồng chí Nguyễn Phú Bình làm trưởng đoàn đã có sáng kiến mời thường trực Ban VSTBPN của các ngành thành viên như Bộ KH- ĐT, Bộ LĐ-TB & XH tham gia thành phần đoàn. Với sáng kiến này, các Ban VSTBPN vừa có thêm điều kiện trao đổi và học hỏi kinh nghiệm hoạt động của nhau vừa là một hình thức “kiểm tra chéo”. Bên cạnh đó, Ban Dân vận TW và TW Hội LHPNVN đã tham gia tích cực trong các đợt đi kiểm tra. Sự cộng tác nêu trên đã góp phần nâng cao hiệu quả của kiểm tra, đồng thời tạo điều kiện để các cơ quan chức năng nắm bắt sâu hơn tình hình hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ.
Về phía các đơn vị được kiểm tra, nhìn chung đều có sự chuẩn bị tương đối tốt về nội dung báo cáo, linh hoạt trong sắp xếp lịch làm việc và mời khá đầy đủ thành phần dự họp. Các tỉnh Lai Châu, Sơn La và Lào Cai là những đơn vị được bổ sung nhưng đã rất tích cực chuẩn bị nội dung cho buổi làm việc đạt kết quả. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn 4/20 đơn vị trong kế hoạch kiểm tra là Đài Tiếng nói Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và tỉnh Hà Giang đã không bố trí được thời gian làm việc, tỉnh Hải Dương xin hoãn được kiểm tra vào năm sau.
2. Tổng hợp kết quả kiểm tra:
2.1. Về triển khai thực hiện KHHĐ đến năm 2005:
Năm 2005 là năm kết thúc việc thực hiện KHHĐ vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2005 của các bộ ngành, địa phương. Qua kiểm tra cho thấy, lãnh đạo Bộ Xây dựng, tỉnh Điện Biên đã ban hành được Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo thực hiện KHHĐ, phân công rõ trách nhiệm và sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành thành viên hữu quan đối với hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ.
Cho tới thời điểm được kiểm tra, về cơ bản các đơn vị đã có thể dự báo được mức độ hoàn thành các chỉ tiêu đề ra trong KHHĐ. Nhìn chung, việc thực hiện các chỉ tiêu về lao động, việc làm, giáo dục và chăm sóc sức khoẻ luôn có khả năng đạt và vượt kế hoạch đề ra. Riêng các chỉ tiêu về tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo vẫn đang là một thách thức. Tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo quản lý ở các đơn vị Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, thành phố Hải Phòng, tỉnh Bắc Ninh nhìn chung còn thấp và chưa thể khắc phục ngay tình hình này trong thời gian tới.
2.2 Việc bảo đảm tỉ lệ cấp uỷ viên là nữ không dưới 15% theo Chỉ thị 46-CT/TW của Bộ Chính trị.
Để triển khai thực hiện yêu cầu nêu trên của Bộ Chính trị, hầu hết những đơn vị được kiểm tra đều có những biện pháp riêng nhằm đảm bảo tỷ lệ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng. Biện pháp được tiến hành chủ yếu là: Tỉnh/Thành uỷ ban hành Thông tri, Chỉ thị cho các đơn vị trực thuộc triển khai xây dựng đề án công tác cán bộ nữ giai đoạn 2005- 2010; tiến hành rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ nữ nói riêng, xây dựng quy hoạch cán bộ, chuẩn bị nhân sự cho bầu cử Quốc hội, HĐND, UBND cũng như Đại hội Đảng các cấp; giao cho Ban VSTBPN và Hội phụ nữ rà soát, giới thiệu cán bộ nữ tích cực đưa vào danh sách bầu cử các cấp uỷ Đảng; yêu cầu các cấp uỷ Đảng tiến hành Đại hội phải đảm bảo tỷ lệ nữ uỷ viên khoá mới cao hơn so với khoá cũ; tham mưu với tỉnh/thành uỷ thành lập Tiểu ban công tác cán bộ nữ. ở một số nơi, Ban VSTBPN đã chủ động phối hợp với Hội phụ nữ tham mưu với cấp uỷ để mở các lớp trung cấp chính trị, phụ vận dành cho cán bộ nữ trong quy hoạch, phối hợp với Trường Chính trị nghiên cứu, lựa chọn những chuyên đề để bồi dưỡng cho cán bộ nữ cơ sở...
Theo đánh giá của các đơn vị thì việc đạt được tỷ lệ theo yêu cầu của Chỉ thị là tương đối khó. Có 5 đơn vị được kiểm tra là Hà Nội, Hải Phòng, Phú Thọ, Đồng Nai, Sơn La đạt được tỷ lệ 15% trở lên theo yêu cầu của Chỉ thị. Tỷ lệ nữ đảng viên hiện nay ở các đơn vị còn thấp. Việc thiếu hụt nguồn cán bộ nữ kế cận là tất yếu khi công tác rà soát, quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ nữ chưa được các cấp lãnh đạo quan tâm thường xuyên mà hầu như chỉ được quan tâm ở thời điểm sát với bầu cử hoặc Đại hội. Việc chỉ đạo thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết về công tác cán bộ nữ ở một số đơn vị chưa được quan tâm đúng mức. Những vấn đề này đã được các đoàn kiểm tra tập trung trao đổi, đồng thời đề xuất với địa phương, đơn vị những biện pháp khắc phục.
2.3 Công tác lồng ghép vấn đề giới vào kế hoạch phát triển của bộ ngành và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
Trong thời gian qua, việc lồng ghép yếu tố giới vào chương trình, kế hoạch phát triển của bộ ngành, địa phương đã bước đầu được quan tâm. Công tác này được triển khai chủ yếu thông qua các dự án về phát triển nông thôn, dự án quốc gia giải quyết việc làm, dự án nước sạch vệ sinh môi trường, chương trình đưa lớp học đến các điểm dân cư miền núi, vùng sâu vùng xa để thu hút học sinh nữ ra lớp nhiều hơn... Trong đó nổi bật là dự án “Điều tra cơ bản về thực trạng bình đẳng giới và tác động của chính sách đối với vấn đề bình đẳng giới” do Viện Khoa học và xã hội Việt Nam chủ trì thực hiện. Mục đích của dự án là nhằm nghiên cứu toàn diện về thực trạng bình đẳng giới và tác động của chính sách đối với phụ nữ và nam giới. Kết quả của dự án sẽ là những căn cứ quan trọng để đề xuất các chủ trương, chính sách và giải pháp tăng cường bình đẳng nam nữ vì mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Riêng ở tỉnh Ninh Thuận, lồng ghép giới được thể hiện rõ trong việc thực hiện dự án về hạ tầng cơ sở nông thôn dựa vào cộng đồng thông qua việc quy định số lượng cán bộ nữ tối thiểu tham gia vào Ban điều phối dự án xã cũng như trong các cuộc họp lựa chọn công trình. Dự án ưu tiên lựa chọn công trình do phụ nữ đề xuất. Thông qua đó, phụ nữ đã được tham gia và có vai trò trong qúa trình xây dựng, thực hiện dự án cũng như kế hoạch phát triển của địa phương.
Tuy nhiên, công tác kiểm tra còn cho thấy, vẫn còn những đơn vị đang lúng túng trong công tác này. Nguyên nhân là do nhận thức về giới và kỹ năng lồng ghép giới của cán bộ nói chung, cán bộ làm công tác kế hoạch nói riêng còn hạn chế. Bên cạnh đó, việc thiếu các số liệu tách biệt theo giới tính và thông tin phân tích giới cũng đang là trở ngại trong quá trình lập kế hoạch. Điều đáng quan tâm là có những dự án chỉ tập trung tăng số lượng phụ nữ tham gia mà chưa chú trọng tới việc giải quyết các vấn đề giới. Mặt khác, hiện đang tồn tại sự chênh lệch khá lớn về tỷ lệ tham gia quản lý giữa phụ nữ và nam giới song các cấp lãnh đạo chưa nhận thức đầy đủ và chưa chỉ đạo sát sao việc lồng ghép giới trong công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ.
2.4 Tình hình kiện toàn tổ chức và hoạt động của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp theo Chỉ thị 27/TTg ngày 15/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ.
· Về tổ chức bộ máy:
Hầu hết các đơn vị được kiểm tra đã tiến hành kiện toàn tổ chức bộ máy theo yêu cầu của Chỉ thị. Riêng tỉnh Phú Thọ và thành phố Hải Phòng đã tiến hành kiện toàn Ban nhưng vẫn giữ cơ cấu chủ tịch Hội phụ nữ làm Phó ban thường trực. Sở Kế hoạch- Đầu tư tỉnh Gia Lai mặc dù mới được giao nhiệm vụ là cơ quan thường trực nhưng bước đầu đã phát huy được vai trò trong việc tham mưu cho lãnh đạo tỉnh và chủ động tổng hợp báo cáo tình hình thực hiện KHHĐ. Nhiều tỉnh, thành phố đã có văn bản hướng dẫn các đơn vị cấp dưới tiến hành kiện toàn tổ chức Ban VSTBPN, đảm bảo thống nhất từ cấp tỉnh tới cơ sở.
Bên cạnh việc kiện toàn tổ chức bộ máy hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ, các đơn vị đã tiến hành xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung Quy chế của Ban VSTBPN phù hợp với tình hình thực tế, phân công rõ trách nhiệm của các thành viên và quy định lề lối làm việc của Ban. 100% đơn vị được kiểm tra đã có cán bộ thường trực Ban. Điểm mới so với trước đây là nhiều tỉnh thành đã cử ít nhất được 2 cán bộ thuộc Sở Kế hoạch- Đầu tư và Hội phụ nữ tham gia nhóm thư ký giúp việc cho Ban. Có 3 đơn vị là Bộ Giáo dục- Đào tạo, tỉnh Đồng Nai và Tây Ninh đã có cán bộ chuyên trách giúp việc cho Ban. Ngoài ra, Bộ Giáo dục - Đào tạo cũng là một trong số ít đơn vị đã thành lập được các tiểu ban hoạt động theo chuyên đề. Đây là một trong những yếu tố thuận lợi, giúp cho công tác tham mưu, triển khai các hoạt động đi vào chiều sâu và thể hiện sự quan tâm của các cấp lãnh đạo đối với hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ.
Hầu hết các Ban thực hiện được chế độ sinh hoạt định kỳ ít nhất 2 lần/năm. Nội dung các cuộc họp tập trung vào việc sơ, tổng kết, xây dựng chương trình công tác, củng cố kiện toàn bộ máy, hướng dẫn hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ đối với ở các đơn vị cấp dưới, báo cáo kết quả triển khai các hoạt động của Ban,... Tuy nhiên, ở một số nơi đặc biệt là các bộ ngành, việc duy trì chế độ họp Ban chưa được thường xuyên và hiệu quả chưa cao.
So với trước đây, việc cấp kinh phí cho hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các bộ ngành và tỉnh thành đã ngày càng tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động. Tại các đơn vị được kiểm tra, mức kinh phí được cấp cho năm 2005 thấp nhất là 8 triệu (tỉnh Lai Châu), cao nhất là 380 triệu (tỉnh Đồng Nai) và phổ biến là từ 50 đến 80 triệu. Một số nơi đã cấp kinh phí cho hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ ở cấp huyện như ở Đồng Nai: huyện cao nhất được cấp 65 triệu/năm và thấp nhất là 15 triệu/năm. Trong khi đó, Bộ Thuỷ sản và Bộ Giáo dục- Đào tạo chưa phân bổ kinh phí thường xuyên cho hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ. UBQG đề nghị các đơn vị trên sớm khắc phục tình trạng này.
Việc thành lập hệ thống Ban VSTBPN ở các đơn vị cấp dưới vẫn được các bộ ngành và tỉnh thành tiếp tục triển khai. Điều đáng quan tâm hiện nay là nâng cao chất lượng hoạt động của các Ban VSTBPN cơ sở. Vẫn có tình trạng khoán trắng công tác VSTBPN cho Ban Nữ công hoặc Hội phụ nữ, chưa thực hiện đầy đủ chế độ họp, lãnh đạo thiếu quan tâm, thành viên chưa nắm vững chức năng, nhiệm vụ của Ban... Mặt khác, Ban cũng chưa chủ động phối hợp với các sở, ban ngành hữu quan để lồng ghép hoạt động VSTBPN vào công tác chuyên môn. Việc cấp kinh phí không đầy đủ và thường xuyên cũng là một trong những yếu tố dẫn đến tình trạng Ban chỉ tồn tại hình thức, thiếu nguồn lực để hoạt động. Trong số những đơn vị được kiểm tra, vẫn còn Ban Tôn giáo của Chính phủ và Bộ Thuỷ sản chưa chỉ đạo hoạt động đối với các đơn vị trực thuộc.
· Về triển khai các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ:
- Công tác tuyên truyền, huấn luyện: Tuy ở mức độ và phạm vi khác nhau nhưng hầu hết các đơn vị đều đã triển khai hoạt động tuyên truyền với các hình thức khá phong phú như: tuyên truyền trên báo, đài địa phương; tổ chức các hội thảo chuyên đề; xuất bản sổ tay hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ, duy trì việc xuất bản tờ tin Phụ nữ và Tiến bộ; Thi tìm hiểu về chính sách, pháp luật liên quan đến công tác phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em; tập huấn về kỹ năng lồng ghép giới, kỹ năng lãnh đạo cho các nữ ứng cử viên HĐND; đưa nội dung giảng dạy về giới thành môn học trong Trường Chính trị...
Có thể khẳng định công tác tuyên truyền, huấn luyện về bình đẳng giới ở các bộ ngành, địa phương trong những năm gần đây đã góp phần đáng kể làm thay đổi nhận thức của cộng đồng về vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội. Tuy nhiên, công tác tuyên truyền về bình đẳng giới hiện nay vẫn còn có những hạn chế cần khắc phục. Cụ thể là các đơn vị mới chỉ chú trọng đến hình thức mà chưa quan tâm tới đối tượng tuyên truyền. Mặt khác, do cơ chế kiêm nhiệm cũng như sự hạn chế về kinh phí nên công tác tuyên truyền cũng chỉ chủ yếu do Hội phụ nữ hoặc Ban nữ công đảm nhận.
- Công tác kiểm tra: Có 60% đơn vị được kiểm tra báo cáo có xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra các đơn vị trực thuộc. Bộ Giáo dục - Đào tạo là một trong những điển hình về việc thực hiện tốt công tác kiểm tra thông qua việc phối hợp với công tác chuyên môn. Nhiều kiến nghị của chị em trong ngành giáo dục đã được quan tâm giải quyết như: thực hiện chế độ bảo hiểm cho giáo viên mầm non, ưu tiên bố trí chỗ ở cho sinh viên nữ.... Tuy nhiên, so với những năm trước, công tác kiểm tra vẫn chưa có tác động cụ thể. Nhiều nơi chỉ báo cáo được số lượt đơn vị kiểm tra mà chưa phản ánh được chất lượng và tác động của hoạt động kiểm tra. ở các tỉnh thành, việc kiểm tra chủ yếu vẫn do Hội phụ nữ chủ trì, chưa có sự phối hợp từ các ngành thành viên và việc giải quyết những vấn đề đặt ra sau kiểm tra còn rất hạn chế. Vấn đề này cũng đã được các đoàn kiểm tra lưu ý đối với các đơn vị.
2.5. Tình hình thực hiện luật pháp, chính sách đối với phụ nữ:
Nhìn chung, các chủ trương của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước đối với phụ nữ đã được các đơn vị thực hiện khá đầy đủ. Tuy nhiên, báo cáo của các đơn vị cho thấy vẫn còn có tình trạng vi phạm pháp luật đối với phụ nữ như: không đóng BHXH, không thực hiện chế độ nghỉ thai sản cho lao động nữ; quy định thời gian làm việc khắt khe; không thực hiện nghiêm túc các quy định về an toàn, vệ sinh lao động; vi phạm các chế độ về tiền lương, thưởng; quy định tuổi tuyển dụng của lao động nữ thấp hơn so với lao động nam... Những vi phạm nêu trên diễn ra nhiều năm nay nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Một số bộ ngành, tỉnh thành đã quan tâm thông qua việc xây dựng chế độ, chính sách hỗ trợ cán bộ nữ tham gia học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ (quy định mức kinh phí đối với cán bộ nữ được cử đi học thường cao hơn so với nam giới 1,5 lần; hỗ trợ thêm cho cán bộ nữ có con nhỏ khi đi học).
2.6. Một số vấn đề xã hội tác động đến sự tiến bộ của phụ nữ được phản ánh qua các đợt kiểm tra:
So với báo cáo tổng hợp tình hình kiểm tra năm 2004, những yếu tố xã hội có tác động tiêu cực tới sự tiến bộ của phụ nữ như: nạn mại dâm, nghiện hút, lây nhiễm HIV/AIDS, buôn bán phụ nữ và trẻ em, xâm hại tình dục đối với trẻ em gái, ngược đãi phụ nữ, lấy chồng nước ngoài, ly hôn... vẫn đang được xem là những vấn đề “nóng” ở một số địa phương. Ngoài ra, tình trạng lao động nhập cư vào các tỉnh thành lớn cũng gây ra những khó khăn về việc làm, thu nhập, đời sống và an ninh xã hội, trong đó lao động nữ di cư là những đối tượng phải chịu nhiều rủi ro hơn cả. Việc chấp hành pháp luật về nhà đất, việc khiếu nại, tố cáo kéo dài trong đó có nhiều chị em tham gia do bị lôi kéo, kích động cũng là những vấn đề đáng quan tâm hiện nay. Lãnh đạo các cấp, các ngành đã có những giải pháp khắc phục song chưa đủ mạnh để có thể hạn chế tối đa những tác động xấu tới phụ nữ.
3. Kiến nghị của các bộ ngành, tỉnh thành:
Trên cơ sở những kiến nghị của các bộ ngành, tỉnh thành, UBQG tổng hợp như sau:
1. Đề nghị Chính phủ giao cho các cơ quan chức năng nghiên cứu bổ sung, sửa đổi Nghị định 23/CP về chính sách đối với doanh nghiệp có đông lao động nữ cho phù hợp với tình hình thực tế.
2. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo Tổng cục thống kê và các bộ ngành liên quan triển khai công tác thống kê giới một cách thường xuyên và hệ thống từ trung ương đến địa phương.
3. Đề nghị Bộ Kế hoạch- Đầu tư chỉ đạo và hướng dẫn toàn ngành kế hoạch lập và giao các mục tiêu, chỉ tiêu của Chiến lược vì sự tiến bộ của phụ nữ vào kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2006- 2010 và từng năm để các bộ ngành, địa phương thực hiện. Hàng năm, có kiểm điểm đánh giá mục tiêu bình đẳng giới trong tổng kết kế hoạch phát triển kinh tế –xã hội.
4. Đề nghị Bộ Nội vụ nghiên cứu ban hành chính sách cụ thể tạo điều kiện phát triển của đội ngũ cán bộ nữ hơn nữa.
5. Đề nghị Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội nghiên cứu trình Chính phủ ban hành chính sách hợp lý hơn đối với lao động nữ như: thời gian đóng bảo hiểm, tuổi nghỉ hưu...
6. Đề nghị Bộ Giáo dục- Đào tạo nghiên cứu đưa nội dung bình đẳng giới vào nhà trường để học sinh sớm được tiếp cận.
7. Đề nghị UBQG thường xuyên tổ chức kiểm tra, mở các lớp tập huấn, toạ đàm, giao lưu để tăng cường năng lực hoạt động cho Ban VSTBPN các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở.
4. đánh giá chung:
Nhìn chung, công tác kiểm tra hoạt động vì sự tiến bộ phụ nữ năm 2005 của UBQG đã đảm bảo được mục đích và yêu cầu đặt ra. Việc duy trì tốt công tác kiểm tra trong những năm vừa qua giúp UBQG có cơ sở thực tiễn để chỉ đạo hoạt động đạt hiệu quả cao hơn. Các buổi làm việc trực tiếp với các bộ ngành, tỉnh thành còn tạo sự trao đổi thông tin hai chiều thiết thực, giúp UBQG cũng như các đơn vị tham gia kiểm tra cùng nhau chia sẻ, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và những vấn đề cần được quan tâm giải quyết. UBQG ghi nhận những nỗ lực của các bộ ngành, địa phương trong việc triển khai các hoạt động về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ thời gian qua. Tuy nhiên, để có thể mang lại những kết quả thiết thực cho xã hội nói chung và phụ nữ nói riêng, UBQG cũng đề nghị các bộ ngành, tỉnh thành cần tiến hành những biện pháp tích cực hơn, cụ thể hơn nhằm bảo đảm bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong các chương trình, kế hoạch phát triển.
5. Các đề xuất:
Trên cơ sở những kiến nghị nêu trên, UBQG xin đề xuất với Thủ tướng Chính phủ và các bộ ngành một số vấn đề sau:
1. Đề nghị Thủ tướng Chính phủ có cơ chế đánh giá trách nhiệm của các bộ ngành trong việc thực hiện Chiến lược và KHHĐ và lồng ghép giới vào chiến lược, chương trình quốc gia. Có như vậy mới nâng cao tinh thần trách nhiệm và hiệu quả hoạt động.
2. Đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ ngành tham mưu giải quyết dứt điểm những vấn đề giới mà các đơn vị đang rất quan tâm như: tuổi hưu của lao động nam và nữ, điều chỉnh Nghị định 23/CP về chính sách đối với doanh nghiệp có đông lao động nữ; quy định mới về tuổi đi học ở nước ngoài do Bộ Nội vụ ban hành năm 2005.
3. Đề nghị Bộ Kế hoạch- Đầu tư chỉ đạo và hướng dẫn toàn ngành kế hoạch lập và giao các mục tiêu, chỉ tiêu của Chiến lược vì sự tiến bộ của phụ nữ vào kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2006- 2010 và từng năm để các bộ ngành, địa phương thực hiện. Hàng năm, có kiểm điểm đánh giá mục tiêu bình đẳng giới trong tổng kết kế hoạch phát triển kinh tế –xã hội.
4. Đề nghị Tổng cục thống kê và các bộ ngành liên quan triển khai công tác thống kê giới một cách thường xuyên và hệ thống từ trung ương đến địa phương.
5. Đề nghị Bộ Giáo dục- Đào tạo nghiên cứu đưa nội dung bình đẳng giới vào nhà trường để học sinh sớm được tiếp cận.
T/M Uỷ ban quốc gia
vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
Chủ tịch
Nơi nhận:
- Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo)
- Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm (để báo cáo) Hà Thị Khiết
- Các thành viên UBQG
- Các đơn vị được kiểm tra
- Lưu VP. UBQG.